- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị U tranh chấp với ông Nguyễn Văn Ư"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2017/DS-ST Ngày: 11/8/2017 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu Hội thẩm nhân dân: Thƣ ký phiên tòa: nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 528/2014/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2014 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất" theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 36/2017/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2017, giữa các đƣơng sự: * Nguyên đơn: 1. Bà Nguyễn Thị N Địa chỉ: 02/5 đƣờng P. H– Phƣờng PS – Thành phố N – tỉnh Khánh Hòa 2. Bà Nguyễn Thị M Địa chỉ: 02/5 đƣờng P. H– Phƣờng PS – Thành phố N – tỉnh Khánh Hòa 3. Bà Nguyễn Thị U Địa chỉ: thôn PT – Phƣờng VT – Thành phố N – tỉnh Khánh Hòa. phố N – tỉnh Khánh Hòa (là đại diện theo ủy quyền – Giấy ủy quyền ngày 19/8/2014). Đoàn luật sƣ tỉnh Khánh Hòa. Cùng trú tại: 02 đƣờng P. H– Phƣờng PS – Thành phố N – tỉnh Khánh Hòa. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Th Địa chỉ: 02 đƣờng P. H– Phƣờng PS – Thành phố N – tỉnh Khánh Hòa. |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn do bà Nguyễn Thị Thu H là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguyên nhà và đất tại 02 đƣờng P. H– Phƣờng PS – Thành phố N – tỉnh Khánh Hòa là thuộc sở hữu của bà Hồ Thị Ch. Năm 1991 bà Ch có chuyển nhƣợng một phần diện tích cho ông Nguyễn Văn Ƣ và bà Phan Thị Th (theo sơ đồ chuyển nhƣợng ngày 12/9/1991 (có xác nhận của UBND phƣờng PS – thành phố N) căn trái nhà phía sau, diện tích nhƣ sau:
- Diện tích xây cất (nhà phụ): 30,44m2
- Diện tích sử dụng (chung) 27,04m2
- Diện tích đất theo nhà: 39.96m2.
Sau đó, ông Ƣ và bà Thchuyển nhƣợng phần đất nêu trên cho vợ chồng ông Nguyễn Duy Q và bà Nguyễn Thị Mai Tr. Năm 2006, bà Ch chết, bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị U tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất còn lại. Từ năm 1991 đến nay thì bên chúng tôi không thay đổi hiện trạng sử dụng nhà.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Duy Q và bà Nguyễn Thị Mai Tr đã ngang nhiên lấn chiếm đất để xây dựng và sử dụng, cụ thể:
1. Lấn chiếm đất để xây nhà: 0.3x7m.35m = 2.20m2.
2. Lấn chiếm và sử dụng không gian làm mái hiên: 2.9mx3.00m = 8.70m2.
Tổng cộng diện tích lấn chiếm là: 14.74m2.
Tại đơn xác định yêu cầu khởi kiện ngày 22/9/2015 và tại phiên hòa giải ngày 05/6/2017, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích đất lấn chiếm để xây nhà là 2.2m2.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/6/2017, nguyên đơn yêu cầu các bị đơn gồm ông Nguyễn Văn Ƣ ông Nguyễn Duy Q và bà Nguyễn Thị Mai Tr phải trả lại phần diện tích đất 3.7m2 (cũng là phần diện tích chênh lệch so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 42502 do UBND Thành phố N cấp ngày 01/11/2006) và bồi thƣờng số tiền 100.000.000 đồng tổn thất tinh thần.
Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 3.605m2 bao gồm:
1. Lấn chiếm đất để xây nhà: 0.3x 7.35m = 2.205m2 (là đoạn hở giữa hai nhà theo bản sơ đồ năm 1991). Năm 2013, bà Tr và ông Qu đã cắt cây đòn dông nhà của nguyên đơn để lấn chiếm phần đất này. Khi cắt đòn dông, bà Tr, ông Q có xin phép bà U nhƣng chúng tôi không đồng ý với sự cho phép này, đồng thời bà U cũng không có quyền định đoạt tài sản chung.
2. Phần xây chồng lấn theo bản vẽ của Công ty TNHH Dịch vụ địa chính Đ là 1.4m2.
Và không yêu cầu khoản gì khác.
Nguyên đơn cũng đề ra phƣơng án hòa giải là nguyên đơn đồng ý cho bị đơn giữ nguyên hiện trạng để sử dụng với điều kiện bị đơn phải bồi thƣờng số tiền 100.000.000 đồng, nếu không thì yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định, buộc bị đơn phải tháo dỡ các công trình trên đất để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 3.605m2.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Mai Tr trình bày: Về nguồn gốc nhà đất mà chúng tôi đang quản lý, sử dụng nhƣ đại diện nguyên đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, chúng tôi không lấn chiếm đất của ai cả. Theo kết quả đo vẽ ngày 18/4/2017 thì cũng xác định diện tích đất phía bên nguyên đơn sử dụng đã tăng hơn so với sơ đồ bản vẽ năm 1991 khi chuyển nhƣợng cho bên chúng tôi. Tuy nhiên, với thiện chí hòa giải, chúng tôi đồng ý hỗ trợ số tiền 1.4m2 x 12.000.000 đồng = 16.800.000 đồng cho phía nguyên đơn. Nếu không chúng tôi yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Mai Tr giữ nguyên ý kiến của mình. Bà Tr còn trình bày thêm, khi nhận chuyển nhƣợng từ ông Nguyễn Văn Ƣ và bà Phan Thị Th thì giữa hai nhà đã có tƣờng xây sát ranh. Năm 2013, khi bà Tr và ông Q sửa nhà thì cũng xây tƣờng lên trên nên tƣờng cũ để sử dụng. Do cây đòn dông nhà bà N, M, U nằm qua đất nhà bà nhận chuyển nhƣợng nên bà có xin phép và bà U đã ký đồng ý nên bà mới cắt một phần cây đòn dông này để sửa nhà, sử dụng cho đến nay. Trong quá trình bà xây, sửa nhà thì phía gia đình nguyên đơn cũng không có ý kiến gì tranh chấp đối với phần đất 0.3x 7.35m = 2.205m2 (là đoạn hở giữa hai nhà theo bản sơ đồ năm 1991) nhƣ nguyên đơn trình bày. Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc trả 1,4m2 theo Bản vẽ của Công ty TNHH Đ thì không có căn cứ vì diện tích hai bên đều tăng so với bản sơ đồ năm 1991 nhƣ đã trình bày.
Còn phƣơng án hòa giải do nguyên đơn đƣa ra thì chúng tôi không đồng ý.
Bị đơn ông Nguyễn Duy Q trình bày: tôi thống nhất với ý kiến và lời trình bày của bà Nguyễn Thị Mai Tr. Năm 2013, khi chúng tôi sửa nhà là trên nền đất và bờ tƣờng cũ đồng thời cũng sử dụng từ đó cho đến nay chứ không có lấn chiếm thêm đất của ai để xây nhà.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Ư trình bày: tôi thống nhất với ý kiến và lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất tranh chấp. Tôi xác nhận năm 1991, vợ chồng tôi là Nguyễn Văn Ƣ và Phan Thị Th có nhận chuyển nhƣợng của bà Hồ Thị Chmột phần diện tích nhà đất (theo sơ đồ chuyển nhƣợng ngày 12/9/1991, có xác nhận của UBND phƣờng PS – thành phố N). Mặc dù trong sơ đồ chuyển nhƣợng ngày 12/9/1991 thì bà Ch chừa lại phần đất có diện tích 0.3x 7.35m = 2.205m2 (là đoạn hở giữa hai nhà). Tuy nhiên, năm 1991, ngay khi nhận chuyển nhƣợng thì phía bà Ch đã cho phép chúng tôi xây tƣờng sát mép nhà bà Ch để sử dụng. Đến năm 2005, vợ chồng tôi đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 904328 do UBND Thành phố N cấp ngày 27/6/2005 đối với phần nhà đất này. Đến năm 2006, vợ chồng tôi chuyển nhƣợng toàn bộ nhà, đất trên cho ông Nguyễn Duy Q và bà Nguyễn Thị Mai Tr và sau đó đƣợc ông Q và bà Tr cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 42502 do UBND Thành phố N cấp ngày 01/11/2006. Đến năm 2013 thì ông Q, bà Tr sửa lại nhà nhƣ đã trình bày. Nhƣ vậy, trong quá trình chúng tôi sử dụng phần đất có diện tích 0.3x 7.35m = 2.205m2 (là đoạn hở giữa hai nhà) từ năm 1991 đến năm 2013 thì gia đình phía nguyên đơn hoàn toàn không có ý kiến tranh chấp gì. Sau khi bà Tr, ông Qg sửa nhà thì mới tranh chấp về phần mái hiên và bậc tam cấp. Đến năm 2014 mới khởi kiện về phần đất nêu trên. Do vậy nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả 3.605m2 là hoàn toàn vô lý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Th trình bày: tôi thống nhất với lời trình bày của các bị đơn và không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án nhƣ sau:
- Bác yêu cầu của nguyên đơn.
- Buộc bị đơn phải hoàn trả số tiền tƣơng đƣơng với giá trị đất 0.3x 7.35m = 2.205m2 (là đoạn hở giữa hai nhà) cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thƣờng xuyên thay đổi yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện vẫn nằm trong phạm vi khởi kiện ban đầu. Do vậy, hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện đƣợc xác định tại phiên tòa làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Nguồn gốc nhà đất tại 02 đƣờng PH – phƣờng PS – thành phố N là của bà Hồ Thị Ch. Năm 1991 bà Ch có chuyển nhƣợng một phần diện tích cho ông Nguyễn Văn Ƣ và bà Phan Thị Th (theo sơ đồ chuyển nhƣợng ngày 12/9/1991, có xác nhận của UBND phƣờng PS – thành phố N) căn trái nhà phía sau, diện tích nhƣ sau:
- Diện tích xây cất (nhà phụ): 30,44m2
- Diện tích sử dụng (chung) 27,04m2
- Diện tích đất theo nhà: 39.96m2
Sau khi nhận chuyển nhƣợng thì ông Nguyễn Văn Ƣ và bà Phan Thị Th trực tiếp, quản lý, sử dụng tài sản. Đến năm 2005, vợ chồng ông Ƣ - bà Th đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 904328 do UBND Thành phố N cấp ngày 27/6/2005 đối với phần nhà đất này với diện tích đất là 40.1m2. Đến năm 2006, vợ chồng ông Ƣ, bà Th chuyển nhƣợng toàn bộ nhà, đất trên cho ông Nguyễn Duy Q và bà Nguyễn Thị Mai Tr và sau đó đƣợc ông Q và bà Tr cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 42502 do UBND Thành phố N cấp ngày 01/11/2006. Đến năm 2013 thì ông Q, bà Tr sửa lại nhà. Quá trình sửa nhà có cắt một phần ngói, cây đòn dông nhà bà Ch (nay là bà N, M, U quản lý sử dụng). Còn phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên hiện trạng sử dụng nhà, đất từ năm 1991 đến nay.
Hội đồng xét xử thấy rằng: theo thỏa thuận tại hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất, quyển sở hữu nhà ngày 12/9/1991 thì bà Hồ Thị Ch có chừa lại đoạn hở giữa hai nhà có diện tích 0.3x 7.35m = 2.205m2. Ông Nguyễn Văn Ƣ trình bày, tuy hợp đồng là vậy nhƣng thực tế ông đã quản lý, sử dụng cả phần đất này từ năm 1991 đến nay và bà Ch không phản đối. Lời trình bày này của ông Ƣ là có cơ sở vì phù hợp với Tờ bản đồ số 11 – Năm 2001 thể hiện nhà đất thuộc thửa đất nhà ông Ƣ (thửa 149) và nhà đất thuộc thửa đất 150 (thửa nhà bà Ch) là sát mép nhau. Tại bản sơ đồ số 12 đo đạc chỉnh lý theo dự án Vlap năm 2012 cũng thể hiện nhà đất thuộc thửa đất nhà ông Ƣ (thửa 150) và nhà đất thuộc thửa đất 178 (thửa nhà bà Chính – nay do bà N, M, U quản lý sử dụng) là sát mép nhau. Đến năm 2001 ông Ƣ, bà Th đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở ký giáp ranh của bà Hồ Thị Ch. Và đến năm 2013, ông Q, bà Tr sửa nhà thì hai bên cũng không có tranh chấp về đoạn hở tƣờng này. Theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thì bà Nguyễn Thị U còn có bút tích thể hiện sự đồng ý cho bà Tr sửa nhà. Bên cạnh đó, hiện trạng nhà, đất phía nhà bà Ch – nay do bà N, M, U quản lý sử dụng đã đƣợc giữ nguyên từ năm 1991 đến nay thì không có cơ sở xác định phía bị đơn lấn chiếm đất của nguyên đơn nhƣ nguyên đơn trình bày.
Tuy nhiên, về phần đất có diện tích 0.3x 7.35m = 2.205m2 theo sơ đồ chuyển nhƣợng ngày 12/9/1991 là nằm ngoài phần chuyển nhƣợng của bà Ch cho ông Ƣ, bà Th. Tuy bên bị đơn có quá trình quản lý, sử dụng lâu dài nhƣng cũng thể hiện bên bị đơn đã đƣợc hƣởng lợi phần diện tích này. Bị đơn đã sử dụng lâu dài mà phía nguyên đơn không có ý kiến gì phản đối nên không thể giao trả lại cho nguyên đơn bằng hiện vật. Do vậy, xét thấy nên buộc bị đơn phải liên đới hoàn trả phần giá trị bằng tiền cho nguyên đơn 2.205m2 x 12.000.000 đồng/m = 26.460.000 đồng là hợp lý. Do vậy, nên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về chi phí định giá: Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền 6.932.000 đồng, theo kết quả xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét nên buộc cả hai bên chịu chi phí này. Cụ thể, bên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền: 3.466.000 đồng.
Tổng cộng bị đơn phải trả cho nguyên đơn là : 29.926.000 đồng.
Về Án phí: bị đơn phải chịu án phí 1.496.300 đồng về phần yêu cầu của nguyên đơn đƣợc chấp nhận.
Nguyên đơn, phải chịu án phí tính trên giá trị bị bác yêu cầu là: 12.000.000 đồng x 1.4 m = 16.800.000 đồng, án phí là 840.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, hoàn lại số tiền còn thừa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Khoản 4 Điều 275 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 4 Điều 281 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Điều 147, Điều 244, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 100 Luật đất đai;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc các bị đơn ông Nguyễn Văn Ƣ, ông Nguyễn Duy Q và bà Nguyễn Thị Mai Tr phải hoàn trả giá trị phần đất có diện tích 0.3x 7.35m = 2.205m2 bằng tiền là 26.460.000 đồng (hai mươi sáu triệu, bốn trăm sáu mươi ngàn đồng) và tiền chi phí định giá là 3.466.000 đồng (ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu ngàn đồng), tổng cộng là : 29.926.000 đồng (Hai mươi chín triệu, chín trăm hai mươi sáu ngàn đồng) cho các nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị U.
2/ Án phí:
Các bị đơn ông Nguyễn Văn Ƣ, ông Nguyễn Duy Q và bà Nguyễn Thị Mai Tr phải chịu án phí 1.496.300 đồng (một triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, ba trăm đồng) đối với phần yêu cầu của nguyên đơn đƣợc chấp nhận.
Nguyên đơn, phải chịu án phí tính trên giá trị bị bác yêu cầu là 840.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/0000433 ngày 07/11/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang, hoàn lại cho các nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 410.000 đồng (bốn trăm mười ngàn đồng).
3/ Quy định:
Trƣờng hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tƣơng ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền đƣợc thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4/ Quyền kháng cáo: các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Nha Trang - Đƣơng sự - THADS Tp Nha Trang - TAND tỉnh Khánh Hòa - Lƣu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Thu Hiếu |