- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Cao Kim Phi L- Bị đơn: Đỗ Thị T,"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, chuyển h sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 449/2024/DS-PT Ngày: 23 - 8 - 2024 V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Linh
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt
Bà Nguyễn Ái Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 257/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 320/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Cao Kim Phi L, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1955 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Ngư i có quyền l i, ngh a vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1955 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2/ Anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1996 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3/ Ông Phạm Văn M, sinh năm 1972 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện L, V nh Long.
4/ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái B .
Đại diện theo pháp lu t: Ông Nguyễn Văn T2 – Ch c vụ: Chi cục trưởng.
Đại diện u quyền: Ông Lê Hoàng H – Ch c vụ: Phó Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (Có mặt).
(Văn bản u quyền ngày 28/3/2024)
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Đỗ Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn bà Cao Kim Phi L trình bày: Bà T đ ng tên quyền sử dụng đất thửa số 100, t bản đ số C1, diện t ch 4.783m2 toạ lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Theo quyết định kê biên ph n đất số 12/QĐ-TH ngày 05/4/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè) thì bà T đ ng ý tr ch đo trong thửa đất này chuyển như ng cho bà L diện t ch 2.607m2 giá trị thành tiền 312.326.390 đ ng (Theo biên bản ngày 22/8/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè), nên bà T tiếp tục thực hiện xác l p h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất do UBND xã H ch ng thực ngày 22/8/2013 thành thửa số 370, t bản đ số 02, diện t ch 2.607m2 đã đư c UBND huyện C cấp giấy ngày 31/7/2015 cho bà đ ng tên quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý sử dụng bà T đã lấn chiếm sang đất của bà ở hư ng đông ngang 3,10m, dài khoảng 27m, diện t ch theo kết quả đo đạc ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ ký hiệu là T2 diện t ch 85,3m2. Khi Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè đã giao đủ diện t ch đất 2.607m2 và bà đư c UBND huyện C cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đúng như diện t ch đất mà Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè đã giao cho bà.
Nay bà L yêu c u Toà án xem xét giải quyết bu c bà T, ông C và anh T1 phải di d i hoặc chặt b các cây tr ng g m 06 cây m t loại , 01 cây xoài loại B1, 05 cây cóc loại , 01 bụi chuối loại 01 trả lại ph n đất lấn chiếm diện t ch theo kết quả đo đạc ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ ký hiệu là T2 diện t ch 85,3m2, thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp lu t; yêu c u bà T hoàn trả chi ph tố tụng số tiền 9.800.000 đ ng.
Bị đơn bà Đỗ Thị T trình bày: Do bà n hụi t ng số tiền 312.326.390 đ ng theo biên bản ngày 22/8/2013 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè đã ra quyết định kê biên số 12/QĐ-TH ngày 05/4/2011, bà đ ng ý tr ch đo trong thửa đất bà đ ng tên diện t ch 4.783m2 để chuyển như ng cho bà L diện t ch 2.607m2 để tr vốn và lãi. Theo thẩm định giá đất 150.000.000 đ ng/1.000m2, t ng số tiền phải thanh toán là 312.326.390 đ ng, bà đã giao đất cho bà L là 2.607m2 trị giá 391.050.000 đ ng, nên số tiền dư là 78.723.610 đ ng, nhưng ph a bà L chưa hoàn lại cho bà.
Theo biên bản ngày 22/8/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè thì bà T giao đất cho bà L diện t ch 2.607m2, nên ph n đất còn lại của bà T là 2.176m2, nhưng khi nh n giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất bản ch nh thì diện t ch còn lại của bà T chỉ là 1.560,5m2. Sau khi bà T giao đất cho bà L thì bà L đã làm hàng rào kéo lư i B40 sử dụng n định hai bên không có tranh chấp lấn ranh gì v i nhau.
Nay bà T không đ ng ý di d i hoặc chặt b các cây tr ng g m 06 cây m t loại , 01 cây xoài loại B1, 05 cây cóc loại , 01 bụi chuối loại 01 trả lại ph n đất lấn chiếm diện t ch theo kết quả đo đạc ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ ký hiệu là T2 diện t ch 85,3m2 theo yêu c u khởi kiện của bà L.
Ngư i có quyền l i, ngh a vụ liên quan ông Phạm Văn M trình bày: Ông thống nhất v i ý kiến trình bày và yêu c u của bà L về việc yêu c u Toà án xem xét giải quyết bu c bà T, ông C và anh T1 phải di d i hoặc chặt b các cây tr ng g m 06 cây m t loại , 01 cây xoài loại B1, 05 cây cóc loại , 01 bụi chuối loại 01 trả lại ph n đất lấn chiếm diện t ch theo kết quả đo đạc ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ ký hiệu là T2 diện t ch 85,3m2, thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp lu t.
Ngư i có quyền l i, ngh a vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng C trình bày:
Ông thống nhất v i ý kiến trình bày của bà T không đ ng ý di d i hoặc chặt b các cây tr ng g m 06 cây m t loại , 01 cây xoài loại B1, 05 cây cóc loại , 01 bụi chuối loại 01 trả lại ph n đất lấn chiếm diện t ch theo kết quả đo đạc ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ ký hiệu là T2 diện t ch 85,3m2 theo yêu c u khởi kiện của bà L.
Ngư i có quyền l i ngh a vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè trình bày:
Do bà T n tiền hụi t ng số tiền 255.102.000 đ ng, nên Chi cục thi hành án tiến hành kê biên ph n đất vư n của bà T đ ng tên thửa số 100, t bản đ số C1, diện t ch 4.783m2, nên ngày 26/8/2013 ông C, bà T thoả thu n bán đất vư n diện t ch 2.607m2 cho bà L để thi hành án, ngày 30/9/2013 Chi cục thi hành án ban hành công văn đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C và UBND xã H l p thủ tục chuyển giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất diện t ch 2.607m2 t bà T sang cho bà L và đã đư c UBND huyện C cấp giấy cho bà L đ ng tên, ngoài ra Chi cục Thi hành án không giao ph n đất nào thêm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã áp dụng: p dụng Điều 166 B lu t dân sự; Điều 166 Lu t đất đai, Điều 157, Điều 165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 272, 273 B lu t tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc H i quy định về án ph và lệ ph Tòa án; Điều 2 Lu t ngư i cao tu i. Xử:
Chấp nh n yêu c u khởi kiện của bà Cao Kim Phi L.
Bu c bà Đỗ Thị T, ông Nguyễn Hoàng C và anh Nguyễn Hoàng T1 di d i hoặc chặt b 06 cây m n loại , 01 cây xoài loại B1, 05 cây cóc loại và 01 bụi chuối loại 01 trả lại ph n đất lấn chiếm theo sơ đ đo đạc ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ có ký hiệu là T-02 diện t ch 85,3m2 cho bà Cao Kim Phi L n m trong thửa đất số 370, t bản đ số 02, diện t ch 2.607m2 toạ lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số CH001242 đã đư c UBND huyện C cấp giấy ngày 31/7/2015 cho bà Cao Kim Phi L đ ng tên quyền sử dụng đất.
Ph n diện t ch 85,3m2 bu c bà T, ông C và anh T1 trả lại cho bà L kèm theo sơ đ đo đạc ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ có ký hiệu là T-02 có t c n như sau:
Hư ng Đông giáp đất bà Đỗ Thị T.
Hư ng Tây giáp đất bà Cao Kim Phi L.
Hư ng Nam giáp đất bà Cao Kim Phi L.
Hư ng Bắc giáp đất bà Đỗ Thị T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án ph , chi ph tố tụng, ngh a vụ ch m thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 26/4/2024, bị đơn bà Đỗ Thị T có đơn kháng cáo v i n i dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hư ng không chấp nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 23/7/2024, nguyên đơn bà Cao Kim Phi L trình bày: Hình thể thửa đất số 370 đư c thể hiện theo phiếu xác nh n kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 01/3/2024 của công ty TNHH Đ có t c n không ph h p v i sơ đ thửa đất đư c thể hiện trên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số CH001242 ngày 31/7/2015 do UBND huyện C cấp cho bà Cao Kim Phi L, bà L yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm thẩm tra, đo đạc lại thửa đất của bà và thửa đất số 123 của bà Đỗ Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Cao Kim Phi L thay đ i m t ph n yêu c u khởi kiện là yêu c u bà Đỗ Thị T trả lại ph n đất lấn chiếm có diện t ch là 41,8m2. Bị đơn bà Đỗ Thị T không đ ng ý và vẫn giữ nguyên yêu c u kháng cáo. Các đương sự không th a thu n đư c v i nhau về việc giải quyết toàn b vụ án.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Về việc tuân theo pháp lu t: T khi thụ lý phúc thẩm cho đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký và H i đ ng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của B lu t tố tụng dân sự. Ngư i tham gia tố tụng chấp hành đúng n i quy phòng xử án và thực hiện quyền, ngh a vụ đúng pháp lu t; Về n i dung vụ án: Thửa đất số 370, diện t ch 2.607m2, hình thể thửa đất có các cạnh là đư ng thẳng, bà L cũng th a nh n hình thể thửa đất đư c cấp giấy là đư ng thẳng. Tại tòa hôm nay bà L th a nh n thực tế thửa đất 370 bà đang sử dụng hình thể có sự thay đ i là do bà và các chủ sử dụng liền kề có sự th a thu n về ranh do đó ranh đất của bà không còn là đư ng thẳng, các cạnh đều khuyết về ph n đất của bà. Khi Tòa án tiến hành thẩm tra đo đạc lại thì ph a bà T không h p tác, không cho đo đạc, vì v y không thể xác định đư c ranh đất giữa hai bên. Để đảm bảo hai cấp xét xử đề nghị H i đ ng xét xử hủy án sơ thẩm.
Qua nghiên c u toàn b các tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa, n i dung yêu c u kháng cáo của bà Đỗ Thị T, l i trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp lu t tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là có căn c và ph h p.
Đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị T làm trong hạn lu t định, n i dung ph h p nên đư c xem xét chấp nh n.
Ngư i có quyền l i, ngh a vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng T1 có đơn yêu c u Tòa án xét xử vắng mặt, H i đ ng xét xử căn c vào khoản 2 Điều 296 B lu t tố tụng dân sự xử vắng mặt đối v i anh T1.
Về n i dung vụ án: Bà Đỗ Thị T có diện t ch đất là 4.783m2, thu c thửa đất số 100, t bản đ số 1, tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số H00595 ngày 22/02/2007 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp. Bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Hoàng C là ngư i phải thi hành án theo quyết định thi hành án dân sự của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên ngày 05/4/2011 Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định kê biên số 12/QĐ-TH kê biên quyền sử dụng đất đối v i toàn b thửa đất trên. Ngày 22/8/2013 ông Nguyễn Hoàng C và bà Đỗ Thị T th a thu n bán ph n đất mà thi hành án đã kê biên diện t ch là 2.607m2 v i giá là 312.326.390đ ng cho bà Cao Kim Phi L để đảm bảo thi hành án, vị tr thửa đất đư c xác định theo bản mô tả ranh gi i, mốc gi i thửa đất ngày 13/12/2012 có xác nh n của Ủy ban nhân dân xã H và c ng ngày 22/8/2013 bà Đỗ Thị T và bà Cao Kim Phi L ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất đối v i diện t ch đất nêu trên. Ngày 31/7/2015, bà Cao Kim Phi L đư c cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đối v i diện t ch đất 2.607m2 theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số CH001242 là thửa số 370, t bản đ số 2 tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đối v i ph n diện t ch đất còn lại của bà T thì bà T cũng đư c cấp lại giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số CH01243 ngày 31/7/2015 là thửa số 123, t bản đ số 2, diện t ch là 1.560,5m2, bà T không khiếu nại về việc cấp giảm diện t ch so v i diện t ch đất đư c cấp năm 2007 sau khi tr đi diện t ch đất chuyển như ng cho bà Phi L.
Theo bà Phi L trình bày, trong quá trình sử dụng đất bà T đã lấn chiếm của bà diện t ch đất là 85,3m2 nên bà yêu c u bà T, ông C và anh T1 có ngh a vụ di d i hoặc chặt b những cây tr ng để trả lại cho bà diện t ch đất 85,3m2.
Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nh n yêu c u khởi kiện của bà Phi L, bà T không đ ng ý nên có yêu c u kháng cáo.
Qua nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án cũng như l i trình bày của đương sự, H i đ ng xét xử nh n thấy:
Theo tài liệu thể hiện trong h sơ vụ án là bản mô tả ranh gi i, mốc gi i thửa đất ngày 13/12/2012 đư c Ủy ban nhân dân xã H ký xác nh n (BL12) thể hiện thửa đất số 370, diện t ch 2.607m2 đư c mô tả chi tiết ranh gi i sử dụng đất: Hư ng Đông giáp ph n đất còn lại của bà Đỗ Thị T, hư ng Tây giáp đất Đỗ Tôn H1 và Võ Văn T3, hư ng Nam giáp đất Nguyễn Phư c H2, hư ng Bắc giáp đất Đỗ Công K. Sơ đ thửa đất đư c thể hiện t c n đều thẳng góc và sơ đ thửa đất thể hiện trên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất của bà Cao Kim Phi L cũng thể hiện t c n đều thẳng góc. Tuy nhiên tại Phiếu xác nh n kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ thì thửa đất số 370 của bà L thực tế sử dụng đã có sự thay đ i, bà L cũng th a nh n cạnh giáp v i đất ông Đỗ Tôn H1 và đất ông Nguyễn Phư c H2, bà và hai chủ đất này có sự th a thu n về ranh đất khác v i ranh khi đư c cấp giấy ch ng nh n.
Tại Phiếu xác nh n kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ thể hiện diện t ch của hai thửa đất đư c đo trên cơ sở ranh do các đương sự xác định mà không xác định ranh đất theo tọa đ cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 370 của bà L và thửa đất số 123 của bà T là chưa ph h p. Tòa án cấp sơ thẩm căn c vào thực tế sử dụng đất của bà L và bà T để xác định bà T lấn chiếm đất của bà L v i diện t ch 85,3m2 là chưa có cơ sở vững chắc, bởi lẽ để xác định đư c có hay không việc bà T lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà L thì ngoài việc xác định ranh đất theo thực tế sử dụng của hai bên còn phải xác định ranh theo tọa đ cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng của hai thửa đất t đó m i có cơ sở xác định có hay không việc bà T lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà L. Hơn nữa Phiếu xác nh n kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 01/3/2024 của Công ty TNHH Đ không đư c Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tiền Giang kiểm tra, ký duyệt là chưa tuân thủ đúng quy định tại Điều 22 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của B T4.
Ngày 08/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang tiến hành xem xét, đo đạc thẩm định lại ph n đất tranh chấp giữa bà Cao Kim Phi L và bà Đỗ Thị T, tuy nhiên bà T và ông Nguyễn Hoàng C không h p tác, không đ ng ý xác định ranh và cũng không cho đoàn đo đạc đo thửa đất 123 của ông bà nên không có căn c để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét yêu c u khởi kiện của bà Cao Kim Phi L cũng như yêu c u kháng cáo của bà Đỗ Thị T. Để đảm bảo hai cấp xét xử, xét thấy c n hủy án sơ thẩm để cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Do án sơ thẩm bị hủy nên H i đ ng xét xử chưa xem xét đến yêu c u kháng cáo của bà Đỗ Thị T.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là ph h p v i nh n định của H i đ ng xét xử nên chấp nh n.
Về án ph : Bà Đỗ Thị T là ngư i cao tu i nên đư c miễn tiền án ph theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên,
Căn c khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 2 Điều 296 B lu t tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 100/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, chuyển h sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang - Chi cục THADS huyện Cái Bè, Tiền Giang - Các đương sự; - Lưu h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Tuyết Linh |