vanban.org

Bản án 449/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 14/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh L 15 (mười lăm) nãm tù, về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2021.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Mạnh L được miễn án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân H và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Mạnh L 15 (mười lăm) nãm tù, về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 449/2022/HS-PT
Ngày: 14-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

ông Nguyễn Cường

Các thẩm phán:

ông Lê Phước Thanh

ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.

Vào ngày 14 tháng 11 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 423/2022/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Trần Xuân H và đồng phạm bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 25-8-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Xuân H, sinh ngày 17/6/1989 tại H, Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: thành phố H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Đình L, sinh năm 1961 và con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1960; tiền sự: không; tiền án: có 01 tiền án. Ngày 22/12/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình từ ngày 22/12/2021 đến nay, có mặt.

2. Trần Mạnh L, sinh ngày 02/3/1990 tại tỉnh Quảng Bình; nơi ĐKNK thường trú và chổ ở hiện nay: tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo không; con ông Trần Thanh V, sinh năm 1963 và con bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1965; có vợ Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1995 và 01 con, sinh năm 2012; tiền sự: không; tiền án: có 01 tiền án. Ngày 25/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố H, Quảng Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình từ ngày 21/12/2021 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân H: Ông Phạm Văn L, luật sư của Công ty luật TNHH MTV D Miền Trung, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Mạnh L: Ông Lê Thanh H - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 14 giờ 50 phút ngày 21/12/2021, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Bình phối hợp với Công an huyện B kiểm tra nhà nghỉ Phú Thịnh thuộc tiểu khu 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Bình thì phát hiện tại phòng 206 có Trần Mạnh L và Nguyễn Thị L. Quá trình kiểm tra phát hiện Trần Mạnh L cất giấu tổng cộng 228 viên nén hình tròn màu hồng và 07 viên nén hình tròn màu xanh, 01 gói nilon trong suốt bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thu giữ 80 viên nén hình tròn màu hồng và 02 viên nén hình tròn màu xanh. Trần Mạnh L khai đó là ma túy hồng phiến và ma túy đá, số hồng phiến L mua của Hoàng Xuân M ở TP H, tỉnh Quảng Bình, còn số ma túy đá L nhờ một người không quen biết mua giúp với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. L đã bán ma túy cho nhiều đối tượng trên địa bàn, song quá trình điều tra chỉ xác định được Lê Văn N đã mua ma túy ở L 4 lần, mỗi lần 4 viên hồng phiến với giá 300.000 đồng đều ở nhà nghỉ Phú Thịnh ở thị trấn B, B.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Xuân M, thu giữ tổng cộng 2248 (hai nghìn hai trăm bốn mươi tám) viên nén hình tròn màu hồng và 24 viên nén hình tròn màu xanh. Hoàng Xuân M khai nhận số viên nén là ma túy hồng phiến, M mua của Trần Xuân H về cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Xuân H, H đã tự giác giao nộp 28 viên nén hình tròn màu hồng và khai nhận đó là ma túy hồng phiến H cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Quá trình điều tra, H khai nhận. Trong thời gian chấp hành án tại trại giam Đồng Sơn, Trần Xuân H được Duy, là người cùng đi chấp hành án giới thiệu một người tên T ở Quảng Trị có bán ma túy. Ngày 14/12/2021, H, gọi điện thoại cho T để hỏi mua 12 gói ma túy hồng phiến (mỗi gói có khoảng 200 viên), T đồng ý bán với giá 48 triệu đồng và hẹn H 21 giờ ngày 14/12/2021 đến trước cổng ga H sẽ có người đưa ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 14/12/2021, H điều khiển xe mô tô Yamaha Biển kiểm soát 73V3-3968 đến địa điểm đã hẹn thì gặp một người thanh niên đi xe mô tô (không rõ đặc điểm của xe). H đưa cho người thanh niên 48 triệu đồng, người thanh niên chỉ địa điểm cất giấu ma túy cho H đến lấy. Sau đó, H đem về nhà cất giấu. Khoảng một tiếng sau, T gọi điện thoại lại bảo H là T muốn bán thêm cho H 07 gói ma túy hồng phiến với giá 25 triệu đồng, H đồng ý. H lại đến trước cổng ga H gặp người thanh niên đưa tiền và lấy 07 gói ma túy đưa về nhà cất giấu. Số ma túy mua được, H nhằm mục đích vừa sử dụng vừa bán kiếm lời. Cụ thể, H và các đối tượng đã tiến hành mua bán ma túy với nhau những lần sau đây:

Vào khoảng 13 giờ ngày 16/12/2021, tại nhà của H, H bán cho Trần Đình S 01 gói ma túy hồng phiến (khoảng 200 viên) với giá là 05 triệu đồng, số tiền này S đang nợ H và hẹn lúc nào bán được ma túy sẽ trả. số ma túy mua được, S vừa sử dụng vừa bán cho những đối tượng nghiện. Ngày 18/12/2021 S bị bắt và khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy.

Ngày 17/12/2021, Trần Mạnh L gọi zalo cho Hoàng Xuân M, hỏi mua 02 gói ma túy hồng phiến (mỗi gói khoảng 200 viên), M đồng ý bán cho L với giá 11 triệu đồng. Sau đó, M liên lạc hỏi H mua ma túy thì H đồng ý. M điều khiển xe mô tô đến nhà H mua 02 gói ma túy hồng phiến với giá 09 triệu đồng; Sau đó, M giao cho L tại khu vực gần trạm cân H, trên đường tránh thành phố H và nhận từ L 11 triệu đồng.

S ngày 18/12/2021, L tiếp tục liên lạc với M hỏi mua 03 gói ma túy hồng phiến, M đồng ý bán với giá 5,5 triệu đồng/gói. Trưa cùng ngày, M điều khiển xe mô tô đến nhà H mua 05 gói ma túy hồng phiến với giá 22,5 triệu đồng rồi đem về nhà M cất giấu. Một lúc sau, L đi xe mô tô BKS 73F1- 494.96 đến nhà M lấy ma túy, M đã giao cho L tổng cộng là 05 gói ma túy hồng phiến với giá 27,5 triệu đồng, L trả trước 09 triệu đồng, còn lại 18,5 triệu đồng L nợ M và hẹn lúc nào bán xong sẽ trả.

Khoảng 12 giờ ngày 21/12/2021, M tiếp tục liên lạc với H để mua 10 gói ma túy hồng phiến. Sau đó, M đến nhà của Lê Thanh T chơi rồi nhờ T chở đi. H nói với T đi có việc, không nói cho T biết là đi mua ma túy. Trước khi đi, M chuyển cho H 30 triệu đồng qua tài khoản ngân hàng V của em gái H là Trần Thị Thu V. Sau đó, T chở M đến khu vực gần trạm cân Huyền Anh, trên đường tránh TP H. M nhận ma túy từ H và tiếp tục chuyển cho H 14 triệu đồng qua tài khoản em gái H, là Trần Thị Thu V rồi quay về nhà T chơi. Một lúc sau, M đưa số ma túy mua được về cất giấu tại nhà kho của gia đình M. M khai mua số ma túy trên về để bán cho Trần Mạnh L.

Tại bản kết luận giám định số 33/GĐ-PC09 ngày 28/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Các chất thu giữ khi bắt quả tang Trần Mạnh L gồm: 228 viên nén hình tròn màu hồng là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 22,088 gam; 01 gói..tinh thể màu trắng là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lưọng 1,883 gam; 07 viên nén hình tròn màu xanh không phải là chất ma túy, khối lượng 0,704 gam.

Tại bản kết luận giám định số 39/GĐ-PC09 ngày 30/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Các chất thu giữ khi khám xét chổ ở của Trần Mạnh L gồm: 80 viên nén hình tròn màu hồng là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 7,698 gam; 02 viên nén hình tròn màu xanh không phải là chất ma túy, khối lượng 0,186 gam.

Tại bản kết luận giám định số 34/GĐ-PC09 ngày 28/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 28 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ tại Trần Xuân H là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,72 gam.

Tại bản kết luận giám định số 38/GĐ-PC09 ngày 30/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận các chất thu giữ qua khám xét chỗ ở Hoàng Xuân M gồm: 2248 viên nén hình tròn màu hồng là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 214,271 gam; 24 viên nén hình tròn màu xanh không phải là chất ma túy, khối lượng 2,475 gam.

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

tỉnh Quảng Bình đã thu giữ tại Trần Mạnh L tổng cộng 308 viên nén màu hồng, 09 viên nén màu xanh và 01 gói tinh thể màu trắng; 01 điện thoại Sam sung Galaxy A22; 01 điện thoại Oppo Fll Pro; Xe mô tô biển kiểm soát 73F1-494.96 và 3.620.000 đồng. Thu giữ tại Hoàng Xuân M 2248 viên nén màu hồng và 24 viên nén màu xanh; 41.500.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 02 điện thoại di động Iphone; 01 điện thoại Oppo; 02 túi vải; 01 đoạn ống nhựa. Thu giữ tại Trần Xuân H 28 viên nén màu hồng; 02 điện thoại di động Iphone; 01 điện thoại di động Itel và 01 xe mô tô biển kiểm soat 73V3-3968.

Ngày 18/3/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Bình đã trả lại cho bà Lê Thị Như Yến (mẹ đẻ của Hoàng Xuân M) số tiền 41.500.000 đồng. Ngày 05/5/2022 trả lại cho anh Nguyễn Văn Bình, chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS 73FL494.96.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 25-8-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Xuân H và Trần Mạnh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự (Riêng bị cáo H áp dụng thêm khoản 2 Điều 51BLHS)

Xử phạt: bị cáo Trần Xuân H 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/12/2021.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoân 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh L 15 (mười lăm) nãm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo băt tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2021.

Ngoài ra bản án còn quyết định về phần hình phạt đối với bị cáo Hoàng Xuân M; quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/9/2022 bị cáo Trần Xuân H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Xuân H có đơn rút đơn kháng cáo.

Ngày 07/9/2022 bị cáo Trần Mạnh L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Xuân H. Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh L, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Mạnh L và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người khuyết tật và có đơn xin miễn án phí.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Mạnh L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, vì bị cáo là người khuyết tật.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Trần Mạnh L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, xem xét ý kiến của Luận sư và quan điêmt của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận được đơn xin rút đơn kháng cáo của bị cáo Trần Xuân H (đơn có xác nhận của Giám thị trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình) và bị cáo Trần Xuân H khẳng định bị cáo tự nguyện rút đơn kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Xuân H.

Bị cáoTrần Mạnh L thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, chỉ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Xuân H khai nhận: Trong thời gian chấp hành án tại trại giam Đồng Sơn, bị cáo được Duy là người cùng đi chấp hành án giới thiệu một người tên T, ở Quảng Trị có bán ma túy. Ngày 14/12/2021, bị cáo gọi điện thoại cho T để hỏi mua 12 gói ma túy hồng phiến (mỗi gói có khoảng 200 viên), T đồng ý bán với giá 48 triệu đồng và hẹn H 21 giờ ngày 14/12/2021 đến trước cổng ga H sẽ có người đưa ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 14/12/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô Yamaha Biển kiểm soát 73V3-3968 đến địa điểm đã hẹn thì gặp một người thanh niên đi xe mô tô (không rõ đặc điểm của xe). Bị cáo đưa cho người thanh niên 48 triệu đồng, người thanh niên chỉ địa điểm cất giấu ma túy cho bị cáo đến lấy. Sau đó, bị cáo đem về nhà cất giấu. Khoảng một tiếng sau, T gọi điện thoại lại bảo bị cáo là T muốn bán thêm cho H 07 gói ma túy hồng phiến với giá 25 triệu dồng, H đồng ý. H lại đến trước cổng ga H gặp người thanh niên đưa tiền và lấy 07 gói ma túy đưa về nhà cất giấu, số ma túy mua được, H nhằm mục đích vừa sử dụng vừa 4 bán kiếm lời.

Sau khi mua được ma túy, từ ngày 16 đến ngày 21 tháng 12 năm 2021, bị cáo đã bán ma túy cho Hoàng Xuân M ba lần tổng cộng 17 gói ma túy hồng phiến (3400 viên) và bán cho Trần Đình S 01 gói ma túy hồng phiến (200 viên). Quá trình bắt quả tang và khám xét chỗ ở của Trần Xuân H, Hoàng Xuân M, Trần Mạnh L và Trần Đình S đã thu giữ tổng cộng 2634 viên ma túy loại hồng phiến loại Methamphetamine, có khối lượng 251,816 gam.

Bị cáo Hoàng Xuân M khai nhận đã mua của bị cáo H ba lần, tổng cộng 17 gói (khoảng 3400 viên) ma túy hồng phiến và bán cho Trần Mạnh L hai lần, tổng cộng 07 gói ma túy hồng phiến (khoảng 1400 viên). Quá trình bắt quả tang, khám xét chỗ ở của L và M đã thu giữ tổng cộng 2556 viên ma tuý là hồng phiến loại Methamphetamine, có khối lượng 244,057 gam

Bị cáo Trần Mạnh L khai nhận mua của Hoàng Xuân M hai lần, tổng cộng 07 gói (khoảng 1400 viên) ma túy loại hồng phiến. Quá trình bắt quả tang và khám xét chỗ ở của L chỉ thu giữ 308 viên hồng phiến và 01 gói ma túy đá loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 31,669 gam.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, phù hợp với biên bản bắt Trần Mạnh L phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Trần Mạnh L, Trần Xuân H và Hoàng Xuân M, phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Mạnh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Trần Mạnh L, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Bị cáo L là người có một tiền án chưa được xóa án tích, nên được xác định là “Tái phạm”; trong thời gian ngắn đã thực hiện nhiều lần mua bán ma túy, nên thuộc trường hợp “Phạm tội hai lần trở lên”. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có căn cứ. Bị cáo L quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi sai trái của mình; đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L là người khuyết tật, nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không được chấp nhận.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo L là có căn cứ và đúng pháp luật; hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt, tương xứng với tính chất hành vi và hậu quả của vụ án, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Về án phí phúc thẩm: Mặc dù kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nhưng bị cáo có đơn xin miễn án phí phúc thẩm hình sự nên Toà án miễn án phí phúc thẩm hình sự cho bị cáo Trần Mạnh L theo quy định taị Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Xuân H; Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HS-ST ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Trần Xuân H.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh L, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh L 15 (mười lăm) nãm tù, về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2021.

Về án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Trần Mạnh L được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ