vanban.org

Bản án 449/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Chí K được ly hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 11/11/2019 do Ủy ban nhân dân xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho anh và chị không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: chị Nguyễn Thị Huỳnh G được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Chí K được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 449/2022/HNGĐ-ST
Ngày 15-12-2022
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình
“Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thuý Phượng

2. Ông Võ Văn Tám

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 279/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022, về tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2022/QĐXXST-HN ngày 08 tháng 11 năm 2022 giữa:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Huỳnh G, sinh năm 2001.

Nơi cư trú: ấp 2, xã TP1, huyện HN, Đồng Tháp.

- Bị đơn: anh Nguyễn Chí K, sinh năm 1997.

Nơi cư trú: tổ 03, ấp Phú Cường A, xã Phú Thạnh, Phú Tân, An Giang.

(G có yêu cầu vắng mặt, anh K vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ theo đơn khởi kiện, bảng tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh G trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Chí K có tìm hiểu nhau một thời gian, được cha mẹ hai bên chấp thuận tổ chức lễ cưới vào tháng 4/2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân (Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 11/11/2019). Trong thời gian chung sống thường xuyên cự cãi về chuyện tiền bạc do anh K nghiện ma tuý, không lo làm ăn. Từ tháng 4/2020 vợ chồng ly thân đến nay không còn liên lạc. Nay tình cảm không còn, yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chí K.

+ Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Bảo D, sinh ngày 22/01/2017, G nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Chí K: Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

Tòa án tiến hành xác minh được bà Dương Diệu L (mẹ ruột của anh K) cho biết: Vợ chồng K- Giao đã ly thân, không còn chung sống từ tháng 4/2020 đến nay, thời gian vợ chồng K lên thành phố làm thuê có cự cãi nhau về chuyện tiền bạc. Con chung có 01 đứa tên Nguyễn Bảo D, sinh ngày 22/01/2017 do Giao nuôi dưỡng sau khi ly thân đến nay, gia đình có liên lạc với K về việc Toà án mời nhưng K nói không về được vì sắp đi chấp hành án nhưng không biết ở trại giam nào, không cung cấp được thông tin cho Toà án.

* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ thái độ chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

Về nội dung:

Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Chí K là hợp pháp. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh K không lo làm ăn, không quan tâm lo lắng cho gia đình chồng, thường xuyên cự cải về chuyện tiền bạc, nay G yêu cầu ly hôn, yêu cầu tiếp tục nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Huỳnh G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Chí K đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của anh K không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 227, Điều 238 Bộ Luật tố tụng Dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên, anh Nguyễn Chí K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: ấp PCA, xã PT, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Nên G khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 28 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Chí K do sự tự nguyện đến với nhau được cha mẹ chấp thuận rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra.

G cho rằng anh K không lo làm ăn, vợ chồng thường cự cãi nhau về chuyện tiền bạc, đã ly thân từ tháng 4/2022 đến nay không thể hòa giải hàn gắn được, suốt quá trình tố tụng anh K vắng mặt không có lý do, cho thấy tình cảm giữa vợ, chồng đã trầm trọng, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung gồm: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Bảo D, sinh ngày 22/01/2017. G yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, để giữ sự ổn định của đứa trẻ, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục giao cho chị Nguyễn Thị Huỳnh G được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, tuy nhiên G không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Trong thời gian nuôi con, G phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh K khi đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con.

Về tài sản chung và nợ phải thu: Quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa hôm nay chị không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về nợ phải trả: Các đương sự khai không có, vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huỳnh G là người xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 51, 53, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Chí K được ly hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 11/11/2019 do Ủy ban nhân dân xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho anh và chị không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Huỳnh G được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên Nguyễn Bảo D, sinh ngày 22/01/2017 cho đến khi con chung trưởng thành hoặc lao động được, anh Nguyễn Chí K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chưa thành niên không cố định.

Trong thời gian nuôi con, G phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh K khi đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản chung và nợ: Không yêu cầu.

Án phí: Chị Nguyễn Thị Huỳnh G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0005435 ngày 26/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Nguyễn Chí K không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản sao Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ