vanban.org

Bản án 449/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Trọng N - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 449/2017/HSPT
Ngày: 30/8/2017.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.

Các Thẩm phán:

1. Ông Phan Văn Liệt.

2. Ông Trương Công Huấn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước - Cán bộ Tòa

án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 382/2017/HSPT ngày 12/7/2017

đối với bị cáo Trần Quốc T do kháng cáo của người bị hại Huỳnh Tấn L đối với

bản án hình sự sơ thẩm số 57/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân

quận Phú Nhuận.

Bị cáo bị kháng cáo:

Trần Quốc T, sinh năm 1981 tại Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường

trú: 28C/4 đường số 27, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở:

20/20A đường C, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hoá:

12/12; nghề nghiệp: không; con ông Trần Văn H và bà Trần Thủy H; có vợ Lê

Tường V và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày

10/4/2017, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Phú Hòa, tỉnh Bình Dương. (có

đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bị hại có kháng cáo: Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm 1989; trú tại:

208C đường P.V.T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư Võ Đức

Tuấn thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp cho ông Huỳnh Tấn L. (có mặt).

NHẬN!THẤY!

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận và bản án

hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua bạn bè giới thiệu nên Trần Quốc T quen biết với Huỳnh Tấn L.

Khi quen L, mặc dù không làm việc trong ngành Công an nhưng T tự giới thiệu Trần Quốc T đang công tác tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội

- Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC45) với chức vụ Đội trưởng. Do mới ra trường, chưa có việc làm nên Huỳnh Tấn L nhờ Trần Quốc T lo xin việc vào ngành Công an, Trần Quốc T nói với Huỳnh Tấn L sẽ lo cho Huỳnh Tấn L vào làm tại Phòng PC45 nơi Trần Quốc T đang làm việc, chi phí phải đưa cho Trần Quốc T để lo xin việc từ 10.000 USD đến 12.000 USD (đô la Mỹ), Huỳnh Tấn L đồng ý. Ngày 18/10/2014, tại quán cà phê Vườn Xuân, số 98 Huỳnh Văn Bánh, Phường 12, quận Phú Nhuận, Huỳnh Tấn L đã đưa cho Trần Quốc T số tiền 60.000.000đ (tiền Việt Nam) và 5000 USD (tiền Đô la Mỹ), Trần Quốc T viết giấy nhận tiền với nội dung đã nhận của Huỳnh Tấn L số tiền trên để làm thủ tục xin việc và ký tên là Trần Đại Bảo. Ngày 08/12/2014, Trần Quốc T yêu cầu Huỳnh Tấn L đưa thêm cho Trần Quốc T 2000 USD, Huỳnh Tấn L đồng ý và giao cho Trần Quốc T số tiền này tại quán cà phê Vườn Xuân, Trần Quốc T cũng ký tên là Trần Đại Bảo. Khoảng giữa tháng 11/2014, Trần Quốc T yêu cầu Huỳnh Tấn L mua 02 chai rượu và 01 điện thoại Iphone 6 để biếu cho Lãnh đạo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Tấn L đồng ý và mua 01 chai rượu hiệu Chivas 25 lại 700 ml, 01 chai rượu Hennessy loại 01 lít và 01 điện thoại Iphone 6 bản 64GB màu vàng đưa cho Trần Quốc T tại quán cà phê Vườn Xuân. Giữa tháng 12/2014, Trần Quốc T lấy thêm của Huỳnh Tấn L số tiền 9.500.000 đồng với lý do số tiền Huỳnh Tấn L đưa cho Trần Quốc T vẫn chưa đủ.

Để Huỳnh Tấn L tin tưởng, trong khoảng thời gian hứa lo xin việc cho

Huỳnh Tấn L, Trần Quốc T nói Huỳnh Tấn L đưa Sơ yếu lý lịch cá nhân để làm hồ sơ xin vào làm việc và kết nạp Đảng tại ngành Công an. Trần Quốc T hứa đến tháng 4/2015, Huỳnh Tấn L sẽ có Quyết định vào làm việc tại Phòng PC45 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Đến hẹn, Huỳnh Tấn L liên hệ với Trần Quốc T thì Trần Quốc T lại hứa đến tháng 7/2015. Qua nhiều lần, Trần Quốc T hứa hẹn, Huỳnh Tấn L vẫn không được vào làm trong ngành Công an và liên hệ với Trần Quốc T không được nên đã làm đơn tố cáo tới Công an quận Phú Nhuận.

Tại Cơ quan điều tra Công an quận Phú Nhuận, Trần Quốc T thừa nhận

bản thân không làm trong ngành Công an, không có khả năng lo xin việc nhưng muốn chiếm đoạt tiền của Huỳnh Tấn L nên giả danh là Công an để cho Huỳnh Tấn L tin tưởng và giao tiền. Việc Trần Quốc T lấy tên là Trần Đại Bảo để ký tên vào giấy nhận tiền nhằm trốn tránh trách nhiệm khi bị phát hiện chứ thực tế không có ai tên là Trần Đại Bảo. Số tiền chiếm đoạt của Huỳnh Tấn L, Trần Quốc T đã tiêu xài hết. Số tài sản chiếm đoạt của Huỳnh Tấn L gồm: 02 chai rượu Trần Quốc T làm thất Huỳnh Tấn L, 01 chiếc điện thoại Trần Quốc T làm hỏng và đã vứt bỏ.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của

quận Phú Nhuận ngày 12/10/2015 kết luận: 01 chai rượu hiệu Chivas 25 loại

700ml trị giá 6.000.000 đồng, 01 chai rượu Hennessy loại 01 lít trị giá 5.400.000

đồng và 01 điện thoại Iphone 6 bản 64 G trị giá 13.000.000 đồng, 7000 USD trị

giá 156.100.000 đồng. Tổng số tiền Trần Quốc T chiếm đoạt của Huỳnh Tấn L

là 250.000.000 đồng.

Về bồi thường dân sự: gia đình bị cáo Trần Quốc T đã bồi thường cho ông

Huỳnh Tấn L số tiền 170.000.000 đồng, ông Huỳnh Tấn L yêu cầu Trần Quốc T

phải bồi thường số tiền còn lại là 80.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 57/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án

nhân dân quận Phú Nhuận đã tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Lừa đảo

chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật

hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày

10/4/2017.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc T.

- Về trách nhiệm dân sự: không có gì giải quyết.

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm

2009), tịch thu sung quỹ Nhà nước các khoản tiền: 170.000.000 (một trăm bảy

mươi triệu) đồng, ông Huỳnh Tấn L có trách nhiệm giao nộp lại và 80.000.000

(tám mươi triệu) đồng, bị cáo Trần Quốc T có trách nhiệm giao nộp lại.

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và thời hạn kháng cáo theo luật định.

Bị cáo không kháng cáo.

Ngày 02/6/2017, ông Huỳnh Tấn L có đơn kháng cáo toàn bộ phần dân sự

của bản án hình sự sơ thẩm số 57/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân

dân quận Phú Nhuận, đề nghị buộc bị cáo Trần Quốc T phải bồi thường cho ông

Huỳnh Tấn L toàn bộ số tiền 250.000.000 đồng, trong đó, gia đình bị cáo đã

khắc phục bồi thường được 170.000.000 đồng, còn phải bồi thường 80.000.000

đồng. Đề nghị xem xét không tịch thu toàn bộ số tiền trên.

Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng tại cơ quan điều tra và tại

phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Quốc T đã thừa nhận toàn bộ nội dung sự việc,

diễn biến các hành vi mà bản án sơ thẩm đã tuyên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo

không kháng cáo, tại phiên tòa hôm nay do bị cáo đang chấp hành án tại trại

giam Phú Hòa, tỉnh Bình Dương nên đề nghị Tòa xét xử vắng mặt, bị cáo không

có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự của vụ án.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh đã xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử

phạt bị cáo 07 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 3

Điều 139 của Bộ luật hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo. Người bị hại Huỳnh Tấn L kháng cáo cho rằng cần phải xem xét lại về trách nhiệm dân sự của vụ án vì số tiền 250.000.000 đồng mà người bị hại đưa cho bị cáo là khoản thiệt hại cụ thể, không phải là vật chứng của vụ án. Do đây là số tiền xuất phát từ việc người bị hại đưa cho bị cáo nhằm mục đích chạy vào ngành công an là hành vi trái pháp luật, vi phạm điều cấm nên không có cơ sở xem xét chấp nhận, do đó tịch thu sung công quỹ Nhà nước là đúng theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự. Từ các tình tiết trên, đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Tấn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ông Huỳnh Tấn L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vụ án khách quan,

toàn diện đảm bảo sự công bằng và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đề nghị sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng không tịch thu số tiền 250.000.000 đồng mà ông Huỳnh Tấn L đã đưa cho bị cáo Trần Quốc T để nhờ xin việc. Phía bị cáo đã bồi thường 170.000.000 đồng, đề nghị buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho ông số tiền còn lại là 80.000.000 đồng.

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Huỳnh Tấn L cho rằng: Thời

điểm xảy ra vụ án, ông Huỳnh Tấn L mới vừa ra trường, chưa có kinh nghiệm thực tế cuộc sống và thiếu hiểu biết nên đã bị bị cáo Trần Quốc T lừa đưa tiền bạc tài sản để xin vào làm việc tại Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định ông Huỳnh Tấn L là người bị hại trong vụ án này nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần dân sự theo hướng không tịch thu số tiền 250.000.000 đồng. Buộc bị cáo Trần Quốc T phải trả lại cho ông Huỳnh Tấn L số tiền chưa bồi thường là 80.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát bảo lưu quan điểm như đã trình bày, không tranh

luận thêm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc

thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT!THẤY!

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trần Quốc T đã nhận được thông

báo mở phiên tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, do bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Phú Hòa, tỉnh Bình Dương nên đề nghị Tòa xét xử vắng mặt, bị cáo thừa nhận các hành vi sai trái đã gây ra, chấp nhận mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã tuyên, không có ý kiến gì. Riêng về trách nhiệm dân sự của vụ án thì bị cáo không có ý kiến gì.

Xét quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và đặc biệt sau khi xét xử sơ

thẩm bị cáo Trần Quốc T cũng không kháng cáo, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cấp sơ thẩm thẩm tra xem xét. Vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ

sơ như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của

người bị hại, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định… nên có đủ cơ sở

xác định án sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là

đúng người, đúng tội, không oan sai. Do phần trách nhiệm hình sự và hình phạt

của bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên hội

đồng xét xử không xem xét.

Xét kháng cáo của người bị hại Huỳnh Tấn L về phần dân sự của vụ án,

Hội đồng xét xử xét thấy ông Huỳnh Tấn L khi đi xin việc biết rõ muốn xin việc

vào ngành Công an thì phải có đủ các điều kiện quy định và thông qua thi tuyển

công chức nhưng vì không muốn thi cử nên đã tìm đến Trần Quốc T để chạy xin

việc, ông Huỳnh Tấn L đã đưa cho Trần Quốc T tiền và tài sản tổng trị giá là

250.000.000 đồng. Hành vi của ông Huỳnh Tấn L trong trường hợp này là hành

vi trái pháp luật, vi phạm điều cấm có dấu hiệu của tội đưa hối lộ nhưng Cơ

quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận không khởi tố,

truy tố. Đáng lẽ ra phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước toàn bộ tài sản này như

nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 6 Điều

289 Bộ luật hình sự thì người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ

động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và

được trả lại một phần hoặc toàn bộ của để đưa hối lộ. Xét thấy, trong vụ án này,

người bị hại mới ra trường, chưa có kinh nghiệm, thiếu hiểu biết nên đã vi phạm

pháp luật, nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, các tài sản người

bị hại đưa cho bị cáo Trần Quốc T đều từ nguồn vay mượn của người thân, gia

đình. Do đó, mặc dù cấp sơ thẩm đã tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số

tài sản trên là có cơ sở, đúng quy định pháp luật nhưng cần xem xét hoàn cảnh

của ông Huỳnh Tấn L hiện tại chưa có việc làm ổn định, nếu tịch thu các tài sản

trên sẽ dẫn đến cuộc sống của người bị hại thêm khó khăn, nợ nần, hơn nữa sẽ

không khuyến khích được người dân tố cáo tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử

phúc thẩm không tịch thu số tiền ông Huỳnh Tấn L đã đưa cho bị cáo Trần Quốc

T và buộc bị cáo Trần Quốc T phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ tài sản đã

chiếm đoạt cho ông Huỳnh Tấn L, bị cáo đã bồi thường được 170.000.000 đồng

nên còn phải bồi thường cho ông Huỳnh Tấn L số tiền còn lại là 80.000.000

đồng.

Từ các tình tiết nói trên, xét thấy có cơ sở để chấp nhận đề nghị của luật sư

bảo vệ quyền, lợi ích cho người bị hại, chấp nhận kháng cáo của người bị hại

Huỳnh Tấn L, sửa bản án hình sự sơ thẩm về dân sự.

Bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT!ĐỊNH!

Chấp nhận kháng cáo người bị hại Huỳnh Tấn L, sửa bản án sơ thẩm số

57/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật

hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt Trần Quốc T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2017.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc T.

Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm

2009).

Buộc bị cáo Trần Quốc T phải bồi thường cho ông Huỳnh Tấn L số tiền là

250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu đồng), khấu trừ số tiền đã bồi thường là 170.000.000 đồng, bị cáo Trần Quốc T còn phải bồi thường cho ông Huỳnh Tấn L số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi

thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ông Huỳnh Tấn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Trả lại cho

ông Huỳnh Tấn L 200.000 (hai trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tiền án phí, lệ phí tòa án số AC/2012/08480 ngày 12/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo Trần Quốc T phải chịu 4.000.000 (bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ

thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ