- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 446/2023/DS-ST Ngày: 29/9/2023 V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị A.
2. Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 09 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 240/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 373/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 240/2023/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng A
Trụ sở: Đường H, Phường C, Quận B, Thành phố Hà Nội
Địa chỉ liên lạc: Số 162 – 166 Lý Thường Kiệt, Phường 14, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh
Đại diện ủy quyền: Ông Phạm Văn C (giấy ủy quyền số 765/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 12/5/2023)
(có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Nam S, sinh năm 1984
Bà Trương Gia M, sinh năm 1999
(Vắng mặt lần 2 không lý do)
Cùng tạm trú: Đường T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 5 năm 2023 và bản tự khai, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Văn C trình bày: Ngày 10/12/2020, Ngân hàng A (sau đây gọi tắt là A) ký với ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202001268, số tiền vay 2.000.000.000 đồng, mục đích vay: Bù đắp chi phí mua xe ô tô; thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất thỏa thuận là 10%/năm, lãi suất điều chỉnh là 12,4%/năm, lãi quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả: 10%/năm.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 10/12/2020, các bên đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 1603-LCP-202001081 thế chấp xe ô tô con, nhãn hiệu Audi, biển số 51H-300.97, số khung Z4M1GD052557, số máy CRE094467, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 568864 do Công an Tp.Hồ Chí Minh cấp ngày 28/5/2020 cho ông Nguyễn Nam S được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ (số công chứng 036575, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/12/2020). Đăng ký giao dịch bảo tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp.Hồ Chí Minh ngày 14/12/2020.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông S và bà M mới trả được tiền gốc 400.000.000 đồng, sau đó ông bà ko trả nợ cho Ngân hàng nữa. Tính đến ngày xét xử 29/9/2023, ông S và bà M còn nợ A như sau:
- Nợ gốc
: 1.600.000.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn : 132.032.875 đồng;
- Nợ lãi quá hạn
: 55.693.151 đồng;
- Lãi phạt chậm trả : 5.387.478 đồng
Tổng nợ
: 1.793.113.504 đồng.
A đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M phải thanh toán cho A tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2023 là 1.793.113.504 đồng và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 30/9/2023 cho đến khi ông S và bà M thanh toán xong nợ cho A theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Trường hợp ông S và bà M không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nợ thì A được quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp là xe ô tô con, nhãn hiệu Audi, biển số 51H-300.97, số khung Z4M1GD052557, số máy CRE094467 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 568864 do Công an Tp.Hồ Chí Minh cấp ngày 28/5/2020 cho ông Nguyễn Nam S được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ (số công chứng 036575, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/12/2020). Đăng ký giao dịch bảo tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp.Hồ Chí Minh ngày 14/12/2020 để thu hồi nợ cho A. Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì ông S và bà M tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho A.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M nhưng bị đơn không nộp văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án. Tòa án cũng đã tiến hành nhiều phiên hòa giải nhưng không hòa giải được do vắng mặt các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay, dù đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt xét xử lần 2 hợp lệ nhưng các đương sự vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Abuộc ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 1.600.000.000 đồng; về nợ lãi sẽ do Hội đồng xét xử xem xét, tính toán cụ thể kể từ ngày ông S, bà M vi phạm đến ngày vụ án được đưa ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
1.1 Xét thấy nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M phải trả tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng, đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Nguyên đơn có địa chỉ chi nhánh tại Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh nên theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.
1.2 Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng:
2.1 Căn cứ vào hợp đồng tín dụng xác định ông S, bà M có vay của A và đã nhận đủ tiền. Kể từ khi nhận tiền vay cho đến thời điểm xét xử, ông S, bà M mới thanh toán cho Ngân hàng một phần tiền gốc của hợp đồng tín dụng là 400.000.000 đồng.
Sau đó, ông S, bà M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết do đó có cơ sở xác định ông S, bà M còn nợ ngân hàng số tiền gốc của các hợp đồng tín dụng là 1.600.000.000 đồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên A là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật.
Căn cứ vào các hợp đồng tín dụng giữa các bên, từ ngày ông S và bà M không thanh toán lãi theo thỏa thuận thì ngân hàng chuyển toàn bộ nợ sang nợ quá hạn là có cơ sở để chấp nhận.
2.2 Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp:
Hội đồng xét xử nhận định: Xe ô tô con, nhãn hiệu Audi, biển số 51H-300.97, số khung Z4M1GD052557, số máy CRE094467 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 568864 do Công an Tp.Hồ Chí Minh cấp ngày 28/5/2020 cho ông Nguyễn Nam S. Ông S và bà M đã thế chấp tài sản trên cho A thông qua hợp đồng thế chấp tài sản số 1603-LCP-202001081 ngày 10/12/2020 được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ (số công chứng 036575, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/12/2020). Đăng ký giao dịch bảo tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp.Hồ Chí Minh ngày 14/12/2020 theo đúng quy định pháp luật. Do đó khi ông S và bà M không thanh toán thì tài sản trên sẽ được phát mãi để thi hành trả số tiền nợ là có căn cứ.
Trong trường hợp xử lý các tài sản bảo đảm vẫn không đủ thực hiện nghĩa vụ thì A có quyền yêu cầu ông S và bà M tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho A.
Từ những phân tích nêu trên, nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M phải trả cho Ngân hàng các khoản nợ trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M phải chịu toàn bộ án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 40; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 3 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 463; Điều 468; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc bị đơn ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M có trách nhiệm trả một lần cho nguyên đơn Ngân hàng A số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/9/2023 là 1.793.113.504 (một tỷ bảy trăm chín mươi ba triệu một trăm mười ba nghìn năm trăm lẻ bốn) đồng. Cụ thể:
- Nợ gốc
: 1.600.000.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn : 132.032.875 đồng;
- Nợ lãi quá hạn
: 55.693.151 đồng;
- Lãi phạt chậm trả : 5.387.478 đồng
Ngay sau khi ông S và bà M thanh toán xong số tiền còn phải thi hành cho Ngân hàng Athì Ngân hàng có trách nhiệm thanh lý, giải chấp các hợp đồng liên quan đến số tiền nợ và hoàn trả toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp (nếu không còn thế chấp cho khoản vay nào khác) theo hợp đồng thế chấp tài sản số 1603-LCP-202001081 ngày 10/12/2020 được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ (số công chứng 036575, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/12/2020) giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M với bên nhận thế chấp là Ngân hàng A.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn ông S và bà M không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 1603-LCP-202001081 ngày 10/12/2020 được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ (số công chứng 036575, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/12/2020) để thu hồi nợ.
Thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
2. Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Nam S và bà Trương Gia M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 65.793.405 (sáu mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn bốn trăm lẻ năm) đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 31.590.244 (ba mươi mốt triệu năm trăm chín mươi nghìn hai trăm bốn mươi bốn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0035108 ngày 13/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10.
3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM, - VKSND Quận 10, - Chi cục THADS Quận 10, - Các đương sự, - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Hiếu Hạnh |