- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ông Tô Xuân L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 446/2019/DS-ST Ngày: 15/11/2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Rỹ
2. Bà Nguyễn Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 212/2018/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2019/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2019/QĐST-DS ngày 21/10/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT
Trụ sở: 266-268 NKKHN, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991 là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền số 3892/2018/GUQ-PL ngày 03/12/2018 và Văn bản ủy quyền số 1926/2019/UQ-TTT ngày 01/10/2019). (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Tô Xuân L, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: 152/2 HP, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT (Gọi tắt Ngân hàng SGTT) do ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 05/07/2011 Ngân hàng SGTT và Ông Tô Xuân L có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 472074-1277 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của ông L, Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng là 12.000.000 đồng. Mục đích sử dụng nguồn tiền cho tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 11.400.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ ông L đã thanh toán nhiều lần cho Ngân hàng với tổng số tiền là 8.720.000 đồng. Do ông L thực hiện các giao dịch nhưng thanh toán tiền trễ hạn nên khi ông L trả tiền phía ngân hàng ưu tiên trừ tiền lãi và tiền phí trước sau đó mới trừ vào tiền gốc. Kể từ ngày 26/3/2013 ông L ngưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào dù Ngân hàng SGTT nhiều lần nhắc nhở. Căn cứ vào các điều khoản thỏa thuận tại giấy cấp thẻ, ngày 26/03/2013 Ngân hàng SGTT đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông L. Toàn bộ số dư nợ còn thiếu của ông L, ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tín dụng.
Nay Ngân hàng SGTT khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Ông Tô Xuân L phải thanh toán số tiền 33.505.310 đồng (trong đó nợ gốc là 9.286.552đồng và nợ lãi là 24.218.758đồng), thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Tòa đã triệu tập hợp lệ bị đơn Ông Tô Xuân L nhưng ông L vẫn vắng mặt. Ông L không có bản trình bày lời khai của mình về vụ án cũng như Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do bị đơn cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8.
Về thời hạn tố tụng: Thẩm phán vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Về thu thập chứng cứ: Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay còn thiếu theo hợp đồng tín dụng thẻ hai bên đã ký kết cùng tiền lãi tổng cộng số tiền là 33.505.310đồng và thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ đơn khởi kiện, hợp đồng tín dụng thẻ và lời trình bày của nguyên đơn, chứng cứ thu thập. Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hợp đồng tín dụng thẻ số 472074-1277 ký ngày 05/7/2011 giữa Ngân hàng SGTT với ông L, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng thẻ. Do bị đơn cư ngụ tại Quận 8, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8,Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt:
Nguyên đơn do ông Nguyễn Ngọc M là đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Ông Tô Xuân L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự:
Xét, Ngân hàng SGTT yêu cầu Ông Tô Xuân L phải thanh toán số tiền còn thiếu là 33.505.310 đồng (Trong đó nợ gốc: 9.286.552 đồng; nợ lãi: 24.218.758 đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông L không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ, mặc dù đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu của phía nguyên đơn để xem xét giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng tín dụng thẻ hai bên ký ngày 05/7/2011. Trong quá trình sử dụng thẻ ông L đã thanh toán cho phía Ngân hàng SGTT tổng số tiền là 8.720.000 đồng. Ông L ngưng thanh toán cho ngân hàng từ tháng 03/2013 cho đến nay. Do đó ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ được cam kết trong hợp đồng tín dụng thẻ, phía Ngân hàng SGTT gửi văn bản nhắc nợ nhưng ông L vẫn chưa thanh toán tiếp. Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng SGTT là có cơ sở để chấp nhận.
Về thời hạn thanh toán:
Xét, Ngân hàng SGTT yêu cầu ông L thanh toán một lần số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ hợp đồng tín dụng thẻ hai bên ký kết, ông L ngừng thanh toán từ tháng 3/2013 đến nay là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng thẻ. Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng SGTT là có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng SGTT được chấp nhận nên bị đơn ông L phải chịu án phí trên số nợ phải thanh toán là 33.505.310đồng x 5% = 1.675.566đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Buộc Ông Tô Xuân L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền là 33.505.310đồng (Trong đó nợ gốc: 9.286.552đồng; nợ lãi: 24.218.758đồng). Tiền lãi này tính đến ngày 15/11/2019.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 16/11/2019 ông L phải chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng thẻ ngày 05/7/2011 cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Tô Xuân L phải chịu án phí là 1.675.266đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT số tiền 686.000đồng theo biên lai thu số 0014780 ngày 30/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND.TPHCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Thị Nga |