vanban.org

Bản án 445/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng dân sự năm 2015;

Luật phí và lệ phí; Luật thi hành án dân sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN G
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 445/2023/DS–ST
Ngày: 25-9–2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

Bà Nguyễn Thị Kim Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân

QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN G tham gia phiên tòa: Bà Lê

Duy Bảo Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân QUẬN G, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 293/2023/TLST-DS

ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 454/2023/QĐXXST–DS ngày 10 tháng 8 năm 2023

và Quyết định hoãn phiên tòa số 408/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 8 năm

2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C; Địa chỉ trụ sở: Số A Trần Hưng Đ, quận

Hoàn K, Thành phố Hà Nội; Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Nhi

Phương H; Địa chỉ: Số B đường Nguyễn Văn C, phường Nguyễn Cư T, Quận

X, Thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản ủy quyền ngày 15/5/2023. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T; Địa chỉ: Căn hộ 003 Lô A, chung cư

C, đường Nguyễn Văn D, Phường 6, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Trọng Đ; Địa chỉ: Số A đường Bình Q,

Phường 27, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản ủy quyền ngày

18/7/2023. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng

như tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Phạm Thị Nhi Phương H trình bày:

Ngân hàng C (Vietinbank) và bà Nguyễn Thị Thanh T ký kết hợp đồng

cho vay số 22.048.745/2022-HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM ngày 07/4/2022, số tiền vay không vượt quá 20.000.000.000 đồng, mục đích vay thanh toán chi phí nhận chuyển nhượng bất động sản, thời hạn vay 420 tháng, lãi suất áp dụng tối đa 24 tháng đầu kể từ ngày giải ngân 8.4%/năm, sau thời gian này lãi suất được xác định bằng lãi suất tiết kiệm 36 tháng trả lãi sau + 4.5% nhưng không thấp hơn sàn lãi suất NHCT quy định từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi phạt chậm trả 10%/năm.

Theo giấy nhận nợ số 01 ngày 07/4/2022 giải ngân số tiền

20.000.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay, bà T thế chấp tài sản bảo đảm là Quyền sử

đất diện tích 304.2m2 thuộc thửa đất số 528 tờ bản đồ số 26, tại Phường 13, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CB 635421, số vào sổ cấp GCN: CH 02561 do UBND QUẬN G cấp ngày 27/11/2015 cập nhật biến động ngày 14/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T, theo Hợp đồng thế chấp quyền

sử

dụng

đất

số 22.048.745/2022/HĐBĐ/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày 19/4/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà T đã thanh toán 580.870.137 đồng, trong

đó, nợ gốc 80.000.000 đồng, nợ lãi 500.870.137 đồng. Bà T bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ từ ngày 25/8/2022, ngân hàng nhiều lần gửi thông báo, làm việc yêu cầu bà T thanh toán nợ nhưng bà T không thực hiện.

Nguyên đơn yêu cầu:

- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T phải thanh toán cho Ngân hàng C toàn bộ

số nợ tính đến ngày 25/9/2023 là 22.928.029.299 đồng, trong đó, nợ gốc: 19.920.000.000 đồng, lãi trong hạn: 2.848.160.766 đồng, lãi quá hạn: 26.165.013 đồng, phạt chậm trả lãi: 133.703.520 đồng, theo hợp đồng cho vay số 22.048.745/2022-HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM ngày 07/4/2022.

- Tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 26/9/2023 cho đến khi bà T thanh toán

xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay đã ký kết.

- Nếu bà T không trả nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng được quyền

yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi Quyền sử dụng đất diện tích 304.2m2 thuộc thửa đất số 528 tờ bản đồ số 26, tại Phường 13, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CB 635421, số vào sổ cấp GCN: CH

02561 do UBND QUẬN G cấp ngày 27/11/2015 cập nhật biến động ngày

14/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử

dụng đất số 22.048.745/2022/HĐBĐ/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày 19/4/2022 để thu hồi nợ. Hiện trạng tài sản thế chấp vẫn là đất trống,

không thay đổi gì so với giấy chứng nhận, cũng đã được thể hiện tại Biên bản

xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/7/2023.

- Trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán bà T có

nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ.

- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, Ngân hàng yêu cầu bà T phải trả số

tiền Ngân hàng đã tạm ứng là 5.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Phạm Thị Nhi

Phương H có mặt giữu nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn có người đại diên hợp

pháp ông Nguyễn Trọng Đ vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ

án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà kể từ khi thụ lý vụ án cho

đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn, bị đơn chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Không chấp nhận Đơn phản tố của bà T ngày 18/8/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ

tục tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng C khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả số

tiền còn nợ, theo kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ của Công an Phường 6,

QUẬN G: bà T có hộ khẩu thường trú tại căn hộ 003 Lô A, chung cư A, đường

Nguyễn Văn D, Phường 6, QUẬN G và hiện đang cư ngụ tại địa chỉ trên, đây là

vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

nhân dân QUẬN G theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều

35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân QUẬN G tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ quyết định

đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên

tòa đối với ông Nguyễn Trọng Đ là người đại diện hợp pháp của bà T theo đúng quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Đại vắng mặt không có ly do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Căn cứ Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử

chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi vấn đề đương sự có yêu cầu, những vấn đề liên quan đến vụ án đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự

có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên Tòa án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bà T nộp đơn phản tố cho Tòa án ngày 18/8/2023 sau khi Tòa án đã

tiến hành phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 10/8/2023 và đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 454/2023/QĐXXST-DS ngày 10/8/2023, bà T có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Trọng Đ đã nhận trực tiếp tại Tòa án quyết định này. Ngày 18/8/2023, Tòa án nhân dân QUẬN G nhận được Đơn phản tố ghi do bà T ký tên yêu cầu công nhận hợp đồng góp vốn với bà Tăn Thị Thùy T ngày 02/4/2022, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản thế chấp và Đơn yêu cầu đưa bà Tăn Thị Thùy T tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông Nguyễn Trọng Đ ký tên. Căn cứ Khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn và không đưa bà Tăn Thị Thùy T vào tham gia tố tụng trong vụ án này. Bà T có quyền yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

Ngân hàng yêu cầu bà T thanh toán ngay số tiền nợ tính đến hết

ngày 25/9/2023 là 22.928.029.299 đồng, trong đó nợ gốc 19.920.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.848.160.766 đồng, nợ lãi quá hạn 26.165.013 đồng, phạt chậm trả lãi 133.703.520 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 22.048.745/2022-

HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM ngày 07/04/2022; cùng lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định ngân hàng đã cấp tín dụng cho bà T 20.000.000.000 đồng, mục đích vay thanh toán chi phí nhận chuyển nhượng bất động sản thuộc thửa đất số 528, tờ bản đồ số 26 tại Phường 3, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng 8.4%/năm, sau thời gian này lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở + 4.5%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất sàn lãi suất NHCT quy định từng thời kỳ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phạt chậm trả lãi

10%/năm. Như vậy, Hợp đồng cho vay giữa các bên là có thật, hình thức, nội

dung thỏa thuận phù hợp quy định của pháp luật là giao dịch hợp pháp.

Bà T đã nhận đủ số tiền vay 20.000.000.000 (Hai mươi tỷ) đồng theo

Giấy nhận nợ số 01 ngày 07/4/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay, bà

T mới thanh toán được 580.870.137 đồng, trong đó, nợ gốc 80.000.000 đồng,

nợ lãi 500.870.137 đồng.

Theo thỏa thuận tại Điều 2 của hợp đồng cho vay, lãi suất cho vay trong

hạn = lãi suất cơ sở + biên độ 4.5%/năm, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp

đồng là 8.4%/năm chỉ có giá trị cho kỳ tính lãi đầu tiên (áp dụng tối đa 24 tháng

đầu kể từ ngày giải ngân đầu tiên theo Giấy nhận nợ số 01), lãi suất quá hạn =

150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi 10%/năm tính trên số dư lãi chậm

trả tương ứng với thời gian chậm trả. Bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày

25/8/2022. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015,

bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn và Khoản 5 Điều 466 của

Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1, 4 Điều 13, Điều 20, Điều 21 của Thông tư

số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về

hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối

với khách hàng. Căn cứ khoản 5.2 Điều 5 và Điều 9 của hợp đồng cho vay,

ngân hàng được quyền chuyển nợ quá hạn đối với dư nợ gốc không thanh toán

đầy đủ và đúng hạn, bên vay không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ

nợ gốc đến hạn của bất kỳ khoản nợ nào, lãi đến hạn của bất kỳ khoản nợ nào

thì ngân hàng được quyền tuyên bố chấm dứt cho vay, thu hồi trước hạn một

phần hoặc toàn bộ tiền vay trước hạn. Do đó, ngân hàng yêu cầu bà T phải

thanh toán các khoản nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2023 nợ gốc

19.920.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.848.160.766 đồng, nợ lãi quá hạn

26.165.013 đồng, lãi chậm trả lãi 133.703.520 đồng, tổng cộng 22.928.029.299

đồng là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức

tín dụng năm 2010; Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Khoản 1, 4 Điều

13, Điều 20, Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của

Ngân hàng nhà nước.

Ngân hàng yêu cầu bà T phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày

26/9/2023 trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng

cho vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định

pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nếu bà T không thực hiện trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân

hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số

22.048.745/2022/HĐBĐ/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày

19/4/2022, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà T và Ngân hàng ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số

22.048.745/2022/HĐBĐ/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày

19/4/2022 Quyền sử dụng đất diện tích 304.2m2 thuộc thửa đất số 528 tờ bản đồ

số 26, tại Phường 13, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CB 635421, số vào sổ cấp GCN: CH 02561 do UBND QUẬN G cấp ngày 27/11/2015 cập nhật biến động ngày 14/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T.

Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/7/2023, hiện trạng đất đúng

với giấy chứng nhận.

Trường hợp bà T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ theo hợp đồng

cho vay số 22.048.745/2022-HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM ngày 07/04/2022 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 22.048.745/2022/HĐBĐ/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày 19/4/2022, cụ thể: tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất diện tích 304.2m2 thuộc thửa đất số 528 tờ bản đồ số 26, tại Phường 13, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CB 635421, số vào sổ cấp GCN: CH 02561 do UBND QUẬN G cấp ngày 27/11/2015 cập nhật biến động ngày 14/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T hoàn toàn có cở sở để chấp nhận.

Trường hợp bà T trả hết nợ theo Hợp đồng cho vay số 22.048.745/2022-

HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM ngày 07/04/2022 thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại cho bà bản chính: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CB 635421, số vào sổ cấp GCN: CH 02561 do UBND QUẬN G cấp ngày 27/11/2015 cập nhật biến động ngày 14/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T và Tờ khai/Thông báo nộp lệ phí trước bạ ngày 06/4/2022.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả

số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, xét thấy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 157 và Khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu, bị đơn phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, vì vậy buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 5.000.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu

án phí dân sự sở thẩm là 130.928.029 đồng.

Nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại 64.433.368 đồng tiền tạm ứng

án phí cho nguyên đơn.

Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6;

7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 5, Điều 91, Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a

Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 1 Điều 157, Khoản 1 Điều 158, Điều 175,

Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015;

Điều 4, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm

2010;

Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Luật phí và lệ phí;

Luật thi hành án dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí, lệ phí Tòa án;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp

luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Khoản 1, 4 Điều 13, Điều 20, Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-

NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho

vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng C:

Bà Nguyễn Thị Thanh T phải thanh toán cho Ngân hàng C số tiền

22.928.029.299 (Hai mươi hai tỷ chín trăm hai mươi tám triệu không trăm hai

mươi chín nghìn hai trăm chín mươi chín) đồng, trong đó nợ gốc

19.920.000.000 (Mười chín tỷ chín trăm trăm hai mươi triệu) đồng, nợ lãi trong

hạn 2.848.160.766 (Hai tỷ tám trăm bốn mươi tám triệu một trăm sáu mươi

nghìn bảy trăm sáu mươi sáu) đồng, nợ lãi quá hạn 26.165.013 (Hai mươi sáu

triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn không trăm mười ba) đồng, lãi chậm trả lãi

133.703.520 (Một trăm ba mươi ba triệu bảy trăm lẻ ba nghìn năm trăm hai

mươi) đồng tính đến ngày 25/9/2023, theo Hợp đồng cho vay số

22.048.745/2022-HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày

17/04/2022, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 26/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án

nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi quá hạn trên số

tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 22.048.745/2022-HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM ngày 07/04/2022.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh T trả hết nợ theo Hợp đồng cho vay số

22.048.745/2022-HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày 17/04/2022 thì Ngân hàng C có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T bản chính: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CB 635421, số vào sổ cấp GCN: CH 02561 do UBND QUẬN G cấp ngày 27/11/2015 cập nhật biến động ngày 14/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T và Tờ khai/Thông báo nộp lệ phí trước bạ ngày 06/4/2022.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy

đủ

theo

hợp

đồng

cho

vay

số

22.048.745/2022-HĐCV/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM ngày 07/04/2022 thì Ngân hàng C có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản đã thế chấp theo

hợp

đồng

thế

chấp

số 22.048.745/2022/HĐBĐ/NHCT908/NGUYENTHITHANHTAM

ngày 19/4/2022, cụ thể là Quyền sử đất diện tích 304.2m2 thuộc thửa đất số 528 tờ bản đồ số 26, tại Phường 13, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CB 635421, số vào sổ cấp GCN: CH 02561 do UBND QUẬN G cấp ngày 27/11/2015 cập nhật biến động ngày 14/4/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị Thanh T trả cho

Ngân hàng C 5.000.000 (Năm triệu) đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Thanh T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 130.928.029

(Một trăm ba mươi triệu chín trăm hai mươi tám ngàn không trăm hai mươi chín) đồng.

Trả lại cho Ngân hàng C tiền tạm ứng án phí đã nộp là 64.433.368 (Sáu

mươi bốn triệu bốn ba mươi ba ngàn ba trăm sáu mươi tám) đồng theo Biên lai thu số AA/2022/0012588 ngày 01/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành

theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời

hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa

hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo

tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ