vanban.org

Bản án 445/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Lam K đối với anh Nguyễn Văn Lan E.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lam K được ly hôn với anh Nguyễn Văn Lan E. Về quan hệ con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Lam K đối với anh Nguyễn Văn Lan E.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 445/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 27-11-2018
V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Phi Hùng

2. Ông Trần Minh Nhật

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 297/2018/TLST- HNGĐ, ngày 31-8-2018 tranh chấp Hôn nhân và gia đình về “ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2018/QĐXX-ST, ngày 17 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Lê Thị Lam K, sinh năm 1982. HKTT: Ấp Tân T, xã Tân T, huyện PT, tỉnh An Giang (hiện nay cư trú: Số 310/A, tổ 10, ấp T1, thị trấn PM, huyện PT, tỉnh An Giang).

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Lan E, sinh năm 1984. Cư trú: Ấp Tân T, xã Tân T, huyện PT, tỉnh An Giang.

(Chị K có mặt, anh Lan E vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 15-8-2018, bản tự khai ngày 26-9-2018 và lời khai tại phiên tòa thì chị Lê Thị Lam K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Lan E tìm hiểu nhau trước khoảng 02 tuần đến tháng 5 năm 2014 tiến tới chung sống với nhau, không được sự chấp nhận của gia đình hai bên nên không có tổ chức lễ cưới. Chung sống với nhau khoảng 02 đến 3 tháng mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân T, huyện PT, tỉnh An Giang vào ngày 21-7-2014. Quá trình chung sống với nhau hạnh phúc hơn 01 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Lý do, thời gian từ khi sinh con được 25 ngày tuổi phát sinh cự cãi nhau về tiền bạc; anh Lan E buộc chị đi làm kiếm tiền lo sinh hoạt gia đình, cảm thấy cuộc sống bất hợp lý và mỗi lần chiều về nhà thì Lan E thường xuyên có rượu vô cớ đánh chị và con xưng mặt, lúc đó con chỉ khoảng 4 đến 5 tháng tuổi; chị có báo chính quyền địa phương nhưng không ai đến làm việc. Nhiều lần anh Lan E cầm dao dọa và đánh đập thường xuyên nên bỏ về nhà cha, mẹ ruột sống từ thời gian tháng 9 năm 2016 âl cho đến nay. Cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lan E.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau có 01 người con tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 18-3-2015 hiện đang chung sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc đứa con chung đến thành niên hoặc tự lập được; không yêu cầu anh Lan E cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về quan hệ tài sản chung; nợ phải thu và phải trả: Không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Lan E vắng mặt từ khi tòa án thụ lý đến khi xét xử, nên không có lời trình bày.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Riêng bị đơn anh Lan E vắng mặt, không chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung: Hôn nhân của chị Lam K và anh Lan E được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị Lam K về xin ly hôn là có căn cứ pháp luật. Về con chung hiện đang chung sống với chị Lam K cần ổn định đời sống cho cháu nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị Lam K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và đề nghị đại diện VKSND, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

. Về hình thức, thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp: Chị Lê Thị Lam K có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn Lan E, sinh năm 1984. Địa chỉ cư trú: Ấp Tân T, xã Tân T, huyện PT, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PT, tinh An Giang.̉

1.3 Về thủ tục tố tụng: Bi ̣ đơn anh Nguyễn Văn Lan E được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng họp lệ nhưng anh không có mặt, nên HĐXX căn cứ Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Lan E.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lam K và anh Nguyễn Văn Lan E có đăng ký kết hôn (theo giấy chứng nhận kết hôn số 56/2014, ngày 21-7-2014 do UBND xã Tân T, huyện PT, tỉnh An Giang) đây là hôn nhân được pháp luật bảo vệ và giải quyết khi có mâu thuẫn xảy ra. Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập từ năm 2014 trên cơ sở tìm hiểu nhau trước và tự nguyện chung sống với nhau, thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cự cãi về tiền bạc; bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình và nhiều lần anh Lan E thường xuyên có rượu vô cớ đánh chị và con nên anh chị đã chính thức ly thân từ tháng 9 năm 2016 cho đến nay; thời gian ly thân anh chị không tạo điều kiện để hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời từ khi ly thân cho đến nay, cũng như từ khi Tòa án thụ lý yêu cầu ly hôn của chị Lam K phía anh Lan E cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm; không còn quan tâm chăm sóc yêu thương nhau về hôn nhân này; phù hợp lời trình bày của bà Nguyễn Thị H (chị ruột của anh Lan E); anh Lê Văn N – Trưởng ấp Tân T và bà Nguyễn Thị T (mẹ ruột của chị Lam K) nên chị Lê Thị Lam K yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

2.2 Về quan hệ con chung: chị Lê Thị Lam K xác định thời gian chung sống với anh Lan E có người con tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 18-3-2015 hiện đang chung sống với chị K. Từ khi ly thân cho đến nay cháu V chung sống với chị Lam K được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định và phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác. Từ đó, xét thấy hoàn cảnh và điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chưa thành niên của chị Lam K là đảm bảo cần giữ ôn định cuộc sống cho cháu Vi nên HĐXX chấp nhận giao cho chị Lam K tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Tường V đến thành niên hoặc tự lập được theo quy định Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đáng lẽ anh Lan E phải cấp dưỡng nuôi con theo luật định nhưng chị Lam K tự nguyện không yêu cầu, do đó anh Lan E chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu phải trả: chị Lam K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

. Về án phí DSST: Chị Lê Thị Lam K phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Lam K và anh Nguyễn Văn Lan E có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 3; khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Lam K đối với anh Nguyễn Văn Lan E.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lam K được ly hôn với anh Nguyễn Văn Lan E.

2. Về quan hệ con chung:

2.1 Giao người con tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 18-3-2015 cho chị Lê Thị Lam K tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc đến thành niên hoặc tự lập được; chị Lê Thị Lam K tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Văn Lan E cấp dưỡng nuôi con.

2.2 Chị Lê Thị Lam K trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở mà phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Nguyễn Văn Lan E đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

2.3 Vì lợi ích của con chung khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí DSST:

3.1 Chị Lê Thị Lam K phải chịu án phí là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007067 ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Giang.

3.2 Anh Nguyễn Văn Lan E không phải chịu án phí.

Chị Lê Thị Lam K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Nguyễn Văn Lan E được quyền kháng cáo kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ