- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng yêu cầu ông Võ Trường P trả nợ theo hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 442/2025/DS-ST Ngày: 29 - 8 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Hồng Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Châu Thị Lệ
2. Bà Nguyễn Kim Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyến là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 1148/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: NH Thương mại cổ phần SGTT; Địa chỉ trụ sở: Số 266-268 đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Đức T, sinh năm 1984; Địa chỉ nơi làm việc: Số 266-268 đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh; là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền số 5512/2023/UQ-TGĐ ngày 29/12/2023)
Bị đơn: Ông Võ Trường P, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 401/20 Đường L, phường Ti (Phường 9, quận G cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 9 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đức T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 12/10/2022, NH Thương mại cổ phần SGTT (gọi tắt là NH) và ông Võ Trường P ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của NH - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).
NH đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 436438-4584 có hạn mức sử dụng là 20,000,000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch từ ngày 10/10/2022 đến nay với tổng số tiền là 20,430,008 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từ ngày và theo lãi suất NH áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của NH). Bà Thương phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của NH.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông P đã thanh toán cho NH số tiền 500,000 đồng, NH áp dụng thứ tự thanh toán theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của NH.
Ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của NH), ngày 11/3/2023 NH đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của NH). NH đã chuyển dư nợ tại thời điểm này là 24,939,757 đồng làm nợ gốc và áp dụng sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 29/8/2025, ông P còn nợ các khoản sau:
Nợ gốc:
24,939,757 đồng.
Lãi quá hạn: 27,947,850 đồng.
Tổng cộng: 52,887,607 đồng.
Do ông Phú vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên NH khởi kiện yêu cầu:
- Ông Võ Trường P có nghĩa vụ trả cho NH tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 52,887,607 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó: nợ gốc : 24,939,757 đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 29/8/2025: 27,947,850 đồng.
- Ông Võ Trường P có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/8/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
2. Bị đơn – ông Võ Trường P không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định. Tuy nhiên, Thẩm phán vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
Về tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
NH khởi kiện yêu cầu ông P trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Ông P cư trú tại quận G(nay là phường T ), Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về người tham gia tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông P nhưng ông P vắng mặt, không nộp (gửi) cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/10/2022 và tóm tắt sao kê đối với thẻ số 436438-4584 ngày 29/8/2025 của NH, Hội đồng xét xử xét thấy NH yêu ông P trả cho NH số tiền nợ gốc và nợ lãi là 52,887,607 đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, NH yêu cầu ông P thanh toán tiền lãi phát sinh theo quy định theo hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 30/8/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu nên NH yêu cầu ông P trả nợ gốc và nợ lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc ông Võ Trường P trả cho NH Thương mại cổ phần SGTT tổng số nợ là 52,887,607 (năm mươi hai triệu tám trăm tám mươi bảy ngàn sáu trăm lẽ bảy) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó: nợ gốc là 24,939,757 (hai mươi bốn triệu chín trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm năm mươi bảy) đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 29/8/2025: 27,947,850 (hai mươi bảy triệu chín trăm bốn mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi) đồng.
Kể từ ngày 30 tháng 8 năm 2025, ông P tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/10/2022 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của NH cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
NH Thương mại cổ phần SGTT được nhận lại số tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện là 847,822 (tám trăm bốn mươi bảy ngàn tám trăm hai mươi hai) đồng theo theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0012952 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G(nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông P phải nộp số tiền án phí là 2,644,380 (hai triệu sáu trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm tám mươi) đồng.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh;
- Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Châu Thị Hồng Đào
Thành viên
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hội đồng xét xử
Châu Thị Hồng Đào
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hồng Đào Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Thị Hồng Đào |