- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 442/2022/HNGĐ - ST Ngày: 30 - 9 - 2022 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Bờ;
Ông Lê Cao Trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 258/2022/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1990. (Xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Cùng trú tại ấp Hưng Th, xã ĐHC, huyện CP, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Ông và bà L quen biết, tìm hiểu được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và chung sống năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐHC, huyện CP vào năm 2011. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, dần về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường hay cải vả nhau, đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay tình cảm không còn không thể hàn gắn được nên xin ly hôn với bà L. Con chung có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh ngày 01/5/2011; Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 17/5/2013, hiện 02 cháu đang ở với ông Bữu, ly hôn ông B yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung không yêu cầu, nợ chung: không có.
Đối với bị đơn bà Ngô Thị L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ L vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng bà L vắng mặt không có L do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà L.
Lời khai của con chung Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh ngày sinh ngày 01/5/2011; Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 17/5/2013: Từ khi ba mẹ ly thân đến nay, cháu ở với ba, ba nuôi cháu ăn học, nên khi ba mẹ ly hôn hai cháu xin ở với ba.
Tại phiên tòa,
Ông Bữu có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà L vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của ông B và bà L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông B yêu cầu ly hôn với bà L là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh ngày 01/5/2011; Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 17/5/2013, hiện 02 cháu đang ở với ông B, ly hôn ông B yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung, sau khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Ng và cháu M do ông B chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung, theo yêu cầu của ông B và nguyện vọng của cháu Ng và M muốn ở với ông B nên đề nghị giao cháu Ng và M cho ông B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông B không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Ngô Thị L có hộ khẩu thường trú tại xã ĐHC, huyện CP. Ông B khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Ngô Thị L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có L do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Ông B và bà L chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐHC, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn, cải vả nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông B xin ly hôn với bà L. Quá trình giải quyết vụ án, ông B đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, còn bà L không có ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy ông B và bà L đều không có ý định hàn gắn quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông B.
- Về con chung: Ông B và bà L chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh ngày 01/5/2011; Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 17/5/2013, hiện 02 cháu đang ở với ông B, ly hôn ông B yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu Ng và cháu M do ông B chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và 02 cháu có nguyện vọng muốn được ở với ông B. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh ngày 01/5/2011; Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 17/5/2013 cho ông B được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông B không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Ông B phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B.
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn B được ly hôn với bà Ngô Thị L.
Giấy chứng nhân đăng ký kết hôn số 0058/2011 ngày 25/5/2011 của Ủy ban dân xã ĐHC, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp L.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh ngày 01/5/2011; Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 17/5/2013 cho ông Nguyễn Văn B được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông B cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở bà L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) án
̀ phi Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) ta ̣m
́
̀ ứ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu số 0003871 ngày 20 tháng 6 năm 2022 của Cu ̣c
́ thi hành án dân sự huyện CP.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAT An Giang; - THA huyện CP; - VKSND huyện CP; - UBND xã ĐHC; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Mỹ |