- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh Hùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/7/2020;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TAND TP TN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 442/2020/HSST Ngày: 28/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Khắc Thái Sơn 2. Bà Nguyễn Thị Nhung.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thùy Dương - Cán bộ Toà án nhân dân TP TN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Hương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TN, Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 451/2020/HSST ngày 10/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 438/QĐXXST - HS ngày 11/9/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Mạnh H; Sinh ngày: 26 tháng 4 năm 1972,Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ 03, phường CG, thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Trần Doãn Tr (Đã chết); Con bà: Đặng Thị T, sinh năm 1940; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2020). (Có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến:
Ông Trịnh Văn Sơn, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 11, phường GS, thành phố TN, TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 10 phút ngày 13/7/2020, tổ công tác Công an phường GS, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 02, phường GS, thành phố TN thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn phạm tội, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, nam thanh niên khai nhận tên là Trần Mạnh H. H tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái H đang mặc 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai nhận đó là Heroine của H). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, tiến hành cân số cục chất bột màu trắng thu giữ được của Trần Mạnh H có khối lượng là 0,136 gam và lấy mẫu gửi giám định ký hiệu H. Tại Kết luận giám định số 4645/C09-TT2 ngày 22/7/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Mẫu cục chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.Tại Kết luận giám định số 974/KL-KTHS ngày 01/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Khối lượng chất bột màu trắng thu giữ ban đầu trong phong bì niêm phong ký hiệu H1 là: 0,136 gam.
Tại cơ quan điều tra Trần Mạnh H khai nhận: Vào khoảng 15 giờ ngày 13/7/2020, H đi xe ôm từ nhà lên khu vực Trại Bầu, thuộc phường GS, thành phố TN tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua 01 gói Heroine của 1 người đàn ông không quen biết với giá 100.000đ. Sau đó, H cất gói Heroine vào túi quần phía trước bên trái H đang mặc và đi bộ về thì bị tổ công tác Công an phường GS, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận tội của Trần Mạnh H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu 4645/C09(TT2) là đối tượng hoàn lại sau giám định, hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 460/CT- VKSTPTN, ngày 10/9/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Trần Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu 4645/C09(TT2) là đối tượng hoàn lại sau giám định.
- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Mạnh H tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 15 giờ 10 phút, ngày 13/7/2020, tại khu vực tổ 02, phường GS, thành phố TN, Trần Mạnh H đang có hành vi tàng trữ 0,136 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường GS, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Hành vi của Trần Mạnh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:
- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
. Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo xác định không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu 4645/C09(TT2) là đối tượng hoàn lại sau giám định.
. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ theo Trần Mạnh H khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Trại Bầu, thuộc phường GS, thành phố TN ngày 13/7/2020. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở làm rõ để xử lý.
. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Trần Mạnh H: 18 (Mười tám) tháng tù giam về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/7/2020;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu 4645/C09(TT2) là đối tượng hoàn lại sau giám định.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 473 ngày 07/9/2020).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND, Tỉnh, TP; - Công an TPTN; - THA phạt tù; - Sở Tư pháp TN; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đoàn Thị Minh Huệ |