vanban.org

Bản án 441/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Ngọc N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Thái D. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N yêu cầu ly hôn với anh D."
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2023
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Đạt

2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 283/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 406/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phan Thị Ngọc N, sinh năm xxxx. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: KPC1, thị trấn VL, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Thái D, sinh năm xxxx. (vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: Ấp XM, xã KP, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ngày 03 tháng 7 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh D chung sống vợ chồng từ năm 2018; đến năm 2023 có đăng ký kết hôn tại UBND xã KP. Sau khi cưới, vợ chồng chị chung sống tại nhà cha mẹ chị ngụ KPC1, thị trấn VL; chị làm thuê, anh D đi biển. Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 02/2023 phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do anh D có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng xảy ra cự cãi, không còn hạnh phúc. Hiện vợ chồng chị không sống ly thân, nhưng không trao đổi, hàn gắn tình cảm. Nay chị không còn tình cảm với anh D nên yêu cầu được ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh D chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Trọng N, sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện 02 cháu đang sống cùng chị. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thái D vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Ngọc N, chị N được ly hôn với anh Nguyễn Thái D. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Trọng N, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng; chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N, nhận thấy:

Vợ chồng chị chung sống từ năm 2018, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KP theo Giấy chứng nhận kết hôn số xx ngày 13/01/2023 nên là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 02/2023 phát sinh nhiều mâu thuẫn; theo chị N trình bày thì nguyên nhân do anh D ngoại tình, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Hiện vợ chồng chị không sống ly thân, nhưng không trao đổi hàn gắn tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh D không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị N; điều này cho thấy anh không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này. Từ những tình tiết nêu trên có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã thật sự trầm trọng và không thể hàn gắn nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị được ly hôn với anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Anh chị chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Trọng N, sinh ngày xx/xx/xxxx. Xét việc chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con là có cơ sở chấp nhận, vì hiện các cháu sống cùng chị đã ổn định cuộc sống về mọi mặt; riêng đối với cháu Nhân chưa đủ 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp từ mẹ; anh D thường xuyên đi biển sẽ không đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con như chị N và anh cũng không có ý kiến phản đối việc chị N nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh D được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị N yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Ngọc N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Thái D.

2. Về nuôi con chung:

- Giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Trọng N, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

- Anh D được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028*** ngày 28/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G nên xem như chị đã nộp xong án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ