vanban.org

Bản án 441/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Ngọc H và anh Võ Thanh S được ly hôn. Về án phí: Chị Hồ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028041 ngày 26/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Côn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Hồ Thị Ngọc H với Võ Thanh S"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 01-12-2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Mỹ Hà

2. Ông Nguyễn Tấn Đạt

Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Dủ – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 328/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 301/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hồ Thị Ngọc H, sinh năm 19xx (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Võ Thanh S, sinh năm 19xx (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ghi ngày 12/8/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hồ Thị Ngọc H trình bày:

Chị H và anh S chung sống với nhau từ năm 2000, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã T, huyện G. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh S có người phụ nữ thứ hai bên ngoài, có 01 đứa con riêng, chị rất là khổ nhưng do 02 đứa con của chị còn nhỏ nên chị phải làm ngơ để cho anh S muốn đi thì đi, muốn về thì về, vì dù sao anh S vẫn còn trách nhiệm với 02 con, lo cho 02 con ăn học. Đến năm 2020 thì anh S lại tiếp tục có người phụ nữ thứ ba và từ đó chị và anh S đã không còn sống chung, anh S đang chung sống với người phụ nữ thứ ba cho đến nay. Chị không thể tiếp tục cuộc sống chung chồng vì tình cảm đã không còn, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh S.

Về con chung: Giữa anh chị có 02 con chung tên Võ Thị Thanh T, sinh ngày 28/8/20xx và Võ Thị Bích T, sinh ngày 14/11/20xx, hai con đã trưởng thành nên chị H không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Võ Thanh S vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H mặc dù Tòa đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh S.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc phiên tòa,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Ngọc H, cho chị H được ly hôn với anh S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Hồ Thị Ngọc H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Võ Thanh S, sinh năm 19xx, ngụ tại ấp S, xã T, huyện G nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Bị đơn anh Võ Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh S vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của anh S đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Thanh S.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Ngọc H và anh Võ Thanh S có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị H, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh S có quan hệ chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác và có con riêng, chị đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh S vẫn không thay đổi, hết người phụ thứ hai, chị tha thứ rồi một thời gian sau anh S có tiếp người phụ nữ thứ ba, chị H hết sức chịu đựng vì anh S đã dọn ra ngoài chung sống với người thứ ba, anh chị không còn chung sống với nhau nữa. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh S là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh chị chung sống có 02 con chung tên Võ Thị Thanh T, sinh ngày 28/8/20xx, Võ Thị Bích T, sinh ngày 14/11/20xx, hiện các con chung đã trưởng thành, chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hồ Thị Ngọc H có yêu cầu ly hôn nên chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ngọc H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Ngọc H và anh Võ Thanh S được ly hôn.

2. Về án phí: Chị Hồ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028041 ngày 26/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Hồ Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án và anh Võ Thanh S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ