vanban.org

Bản án 441/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/5/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Quang Kiên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441 /2020 /HSST
Ngày: 28/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Khắc Thái Sơn 2. bà Nguyễn Thị Nhung.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thùy Dương - Cán bộ Toà án nhân dân TP TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:

Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TN, Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 412/2020/HSST ngày 28/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 397/QĐXXST - HS ngày 28/8/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Quang K; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 18/4/1972; Nơi ĐKHKTT: tổ 06, phường TL, thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Ngô Quang T, sinh năm 1947; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1948; Gia đình có 03anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lại Thị Thanh T2, sinh năm 1977 (Đã ly hôn); Con: Ngô Việt Cường, sinh năm 2000.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Tại Quyết định số 2993/QĐ-CT ngày 20/5/2010, Chủ tịch UBND thành phố TN Quyết định đưa Ngô Quang K đi chữa bệnh, lao động học tập tại T tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động Xã hội tỉnh TN thời hạn 01 năm. Chấp hành xong ngày 27/5/2011.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2020 đến nay). (Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Ngô Quang T, sinh năm 1947 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 06, phường TL, thành phố TN, tỉnh TN

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1954 ( Có mặt)

Địa chỉ: Tổ 01, phường TD, thành phố TN, TN.

Những người thực hiện nhiệm vụ tố tụng: Anh Tạ Hải A (có mặt)

Đỗ Mạnh S, Ma Thịnh L, Hoàng Văn Nh, Đồng Xuân H (vắng mặt)

Đều là cán bộ Công an phường TD, thành phố TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 22/5/2020, tổ công tác của Công an phường TD, thành phố TN làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ 9, phường TD, thành phố TN thì phát hiện 01 người nam giới có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người nam giới khai nhận tên là Ngô Quang K. Qua kiểm tra, K tự giác giao nộp từ lòng bàn tay phải 01 bao thuốc lá Thăng Long, bên trong bao thuốc lá có 01 gói giấy bạc màu trắng, chứa chất bột màu trắng (K khai là Heroine của K). Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Quang K và thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen, đã qua sử dụng và 01 xe mô tônhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B1-036.27, đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của K có khối lượng 0,243 gam (niêm phong ký hiệu K gửi giám định).

Tại bản Kết luận giám định số 3108/C09-TT2 ngày 31/5/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu K là chất ma túy, loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 880/KL-KTHS ngày 07/7/2020 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, kết luận: Khối lượng chất bột màu trắng thu giữ ban đầu của Ngô Quang K là 0,243 gam.

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Ngô Quang K khai nhận: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 22/5/2020, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B1-036.27 đi từ nhà ở tổ 06, phường TL, thành phố TN đến khu vực tổ 09, phường TD, thành phố TN để mua ma túy sử dụng. Tại đây, K gặp và mua 01 gói Heroine được đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng của 01 người đàn ông tên Tiến (không rõ lai lịch địa chỉ) với giá 200.000 đồng. Sau đó, K cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải, đi tìm chỗ sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường TD, thành phố TN bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Sau đó, Ngô Quang K thay đổi lời khai: K khai gói ma túy trên không phải của K. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/5/2020, khi K đang dừng xe tại khu vực bãi đất trống thuộc tổ 09, phường TD, thành phố TN thì có tổ công tác Công an phường TD, thành phố TN yêu cầu kiểm tra hành chính đối với K. Quá trình kiểm tra, K thấy 01 đồng chí Công an nhặt dưới đất lên 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, cách vị trí K đứng khoảng 01 mét, rồi lấy từ trong bao thuốc lá ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, hô hoán mọi người xung quanh đến chứng kiến việc bắt K, sau đó đưa K về trụ sở Công an phường TD, thành phố TN để làm việc.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng trong hồ sơ, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, các bản kết luận giám định, biên bản xác minh, biên bản hỏi cung, báo cáo ngày 30/5/2020 của tổ công tác Công an phường TD về việc bắt giữ đối tượng Ngô Quang K, đủ cơ sở khẳng định: Ngô Quang K có hành vi tàng trữ 0,243 gam Heroine mục đích để sử dụng vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 22/5/2020 tại khu vực tổ 09, phường TD, thành phố TN.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong ký hiệu 3108/C09-TT2 bên trong chứa ma túy;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI 1: 358176/10/281428/8, số IMEI 2: 351877/10/281428/6, đã qua sử dụng;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B1-036.27, đã qua sử dụng, là xe mô tô của Ngô Quang K.

Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 421/CT- VKSTPTN, ngày 27/8/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Ngô Quang K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn bị cáo K đã nhận mọi hành vi phạm tội của mình, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Ngô Quang K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu 3108/C09-TT2 bên trong chứa ma túy;

+ Tịch thu xung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI 1: 358176/10/281428/8, số IMEI 2: 351877/10/281428/6, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B1-036.27, đã qua sử dụng, là xe mô tô của Ngô Quang K.

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo bị oan, bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến, lời khai của cán bộ công an phường TD, thành phố TN tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ như: biên bản bắt quả tang người phạm tội, các bản kết luận giám định, biên bản xác minh, báo cáo ngày 30/5/2020 của tổ công tác Công an phường TD về việc bắt giữ đối tượng Ngô Quang K.

Vì vậy HĐXX có đủ căn cứ để xác định: Vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 22/5/2020, tại tổ 09, phường TD, thành phố TN, Ngô Quang K có hành vi tàng trữ 0,243 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường TD, thành phố TN phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

Bị cáo không có tiền án, có tiền sự, tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, không quanh co chối tội, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS. Bố bị cáo là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và nộp cho Tòa án Huân huy chương kháng chiến vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhe TNHS theo khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

. Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo xác định không có thu nhập ổn định và không có tài sản gì, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu 3108/C09-TT2 bên trong chứa ma túy;

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI 1: 358176/10/281428/8, số IMEI 2: 351877/10/281428/6, đã qua sử dụng là phương tiên liên lạc mua ma túy nên tịch thu xung quỹ Nhà nước.

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B1-036.27, tên chủ xe là Nguyễn Văn Tấn, ông Tấn xác định đã bán chiếc xe này nên không thuộc quyền sở hữu của ông và ông không còn liên quan gì đến chiếc xe này, ông Ngô Quang T là bố đẻ của bị cáo xác định ông là người bỏ số tiền (13.000.000đ) để mua xe cho K làm phương tiện đi lại, ông không yêu cầu bị cáo trả số tiền trên, tại phiên tòa bị cáo cũng xác định là tài sản của bị cáo. Như vậy, HĐXX xác định đó là tài sản của bị cáo, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu xung quỹ.

. Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, tại cơ quan điều tra K khai mua của một người đàn ông tên Tiến (không rõ địa chỉ, lai lịch) tại khu vực tổ 09, phường TD, thành phố TN. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở làm rõ để xử lý.

. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Ngô Quang K: 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/5/2020;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu 3108/C09-TT2 bên trong chứa ma túy;

+ Tịch thu xung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI 1: 358176/10/281428/8, số IMEI 2: 358177/10/281428/6, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 20B1-036.27 nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn xanh đen, dung tích xi lanh, số khung: BY 144984, số máy: JC43E- 1702372, xe đã cũ, là tài sản của Ngô Quang K.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 450 ngày 24/8/2020).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ