- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "DSPT Phạm Thị H - Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Giao hồ sơ cho Toà n nhân dân thành ph Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của ph p luật.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản n s : 44/2023/DS-PT Ngày: 27/7/2023 V/v Tranh chấp Thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế, bà Nguyễn Minh Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Th i Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ, Kiểm s t viên.
Trong c c ngày 07/6/2023 và ngày 27/7/2023, tại Hội trường xét xử Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s 90/2022/DS-PT ngày 30/11/2022 về việc tranh chấp Thừa kế
Do bản n dân sự sơ thẩm s 12/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa n nhân dân thành ph Phổ Yên, tỉnh Th i Nguyên có kh ng c o.
Theo quyết định đưa vụ n ra xét xử s 06/2023/QĐ - PT ngày 30/01/2023, giữa c c đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm T, xã V, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên, có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phạm Thị Hồng V, Luật sư Nguyễn Thị Thanh B, Công ty L6 - Đoàn luật sư thành ph H, có mặt
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm T, xã V, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Quỳnh T1, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm C, xã K, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên, có mặt tại phiên toà ngày 06/7/2023, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà ngày 27/7/2023.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị Ngọc A, Công ty L7 và Cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành ph P, tỉnh Th i Nguyên
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn L, Chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên & Môi trường thành ph P, tỉnh Thái Nguyên, có đơn xin vắng mặt
2. Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh T.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Kiều Quang K, Giám đ c Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, có đơn xin vắng mặt
3. Cụ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1927 (đã chết)
4. Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1953, có mặt Cùng địa chỉ: xóm T, xã V, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
5. Bà Phạm Thị Hồng T3, sinh năm 1959, vắng mặt
6. Bà Phạm Thị K1, sinh năm 1972, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Xóm X, xã T, TP ., tỉnh Thái Nguyên
7. Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1964, vắng mặt Địa chỉ: Xóm T, xã M, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên
8. Bà Phạm Thị L2, sinh năm 1968, có mặt Địa chỉ: Tổ C, phường P, thành ph T, tỉnh Thái Nguyên.
Bà T3, bà L1, bà L2, bà K1 uỷ quyền tham gia t tụng cho ông Phạm Văn B1, sinh năm 1953, địa chỉ: Xóm T, xã V, thành ph P, Th i Nguyên; có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông B1, bà T3, bà L1, bà L2, bà K1: Luật sư Phạm Thị Hồng V, Luật sư Nguyễn Thị Thanh B, Công ty L6 - Đoàn luật sư thành ph H, có mặt
9. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1986; vắng mặt
10. Chị Phạm Thị L3, sinh năm 1990; vắng mặt
11. Anh Phạm Văn D, sinh năm 1992; vắng mặt Cùng địa chỉ: xóm T, xã V, TP P, tỉnh Thái Nguyên
12. Anh Nguyễn Huy L4, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm D, xã Đ, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt
Chị H1, chị L3, anh D, anh L4 uỷ quyền cho bà Trần Thị Quỳnh T1, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm C, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt tại phiên toà ngày 06/7/2023, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà ngày 27/7/2023.
13. Chị Lê Thị V1, sinh năm 1982, có đơn xin vắng mặt
14. Anh Trần Duy S, sinh năm 1977, có đơn xin vắng mặt
Đều có địa chỉ: Xóm B, xã Đ, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên.
15. Anh Vũ Đức D1, sinh năm 1982, có mặt Địa chỉ: Xóm X, xã Đ, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
Cụ Phạm Văn T4, sinh năm 1930, chết năm 1999 và cụ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1927 là b mẹ đẻ bà Hà s được 10 người con gồm: Ông Phạm Xuân T5, sinh năm 1949, chết năm 1983, không có vợ con; ông Phạm Văn B1, sinh năm 1953; bà Phạm Thị H, sinh năm 1958; bà Phạm Thị T3, sinh năm 1959; bà Phạm Thị L1, sinh năm 1964; ông Pham Xuân T6, sinh năm 1966, chết năm 2018; bà Phạm Thị L2, sinh năm 1968; ông Phạm Văn L5, sinh năm 1970, chết năm 1988, không có vợ, con; bà Phạm Thị K1, sinh năm 1972; bà Phạm Thị S1, sinh năm 1975, chết năm 1983.
Ông T6 chết có vợ là bà Nguyễn Thị T, có 03 người con là: Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1986; chị Phạm Thị L3, sinh năm 1990; anh Phạm Văn D, sinh năm 1992. B mẹ bà không có con nuôi, không có con riêng nào khác. Tại thời điểm cụ T4 chết, b mẹ của cụ T4 đều đã chết.
Quá trình chung s ng, cụ T4, cụ T2 khai ph , tạo lập được diện tích 9.043m2 gồm đất ở và đất nông nghiệp được UBND huyện P (nay là thành ph P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/09/1994 mang tên cụ Phạm Văn T4, gồm: Thửa đất s 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 2.160m2 gồm 360 đất ở, 1800 đất trồng cây lâu năm; còn lại là đất trồng lúa, màu.
Năm 1999, cụ Phạm Văn T4 chết không để di chúc, cụ T2 và các các con đều nhất trí chưa phân chia di sản mà giao cho cụ Nguyễn Thị T2 đang ở cùng gia đình em trai Phạm Xuân T7 được tiếp tục quản lý, sử dụng. Ngày 30/06/2009, hộ gia đình ông Phạm Xuân T7, bà Nguyễn Thị T đã được UBND thị xã P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ i với thửa đất s 409, tờ bản đồ 2, diện tích 2.160 m2. Năm 2018, ông Phạm Xuân T7 chết, bà Nguyễn Thị T đã tự ý kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ i với thửa đất nêu trên. Sau khi ph t hiện việc ông T7, bà T tự ý làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của cụ T4, bà H cùng các đồng thừa kế khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện P. Tại Kết luận gi m định của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Chữ viết, chữ ký trong Biên bản họp gia đình đề ngày 10/07/2007 về việc thoả thuận phân chia di sản thừa kế không phải do những người thuộc hàng thừa kế của cụ T4 ký và viết ra. Do thửa đất nêu trên đã chuyển nhượng một phần cho người khác, nên UBND thị xã P không thực hiện việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị T.
Bà Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa n x c định phần di sản của cụ Phạm Văn T4 trong kh i tài sản chung vợ chồng với cụ T2 để chia thừa kế theo ph p luật quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại các thửa đất ở, đất vườn và đất trồng lúa, màu.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế theo ph p luật bằng hiện vật đ i với thửa đất s 409, tờ bản đồ s 2, rút yêu cầu khởi kiện về việc chia thừa kế đ i với diện tích đất trồng lúa, trồng màu.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh trình b:
Thửa đất s 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 2160 m2 do cụ T4 và cụ T2 b mẹ đẻ của ông T7 tặng cho vợ chồng bà, do vợ chồng bà ở chung cùng b mẹ. Việc tặng cho c c cụ chỉ nói bằng miệng, đến năm 2009 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Xuân T7. Về đất canh tác có nguồn g c do cụ T4, cụ T2 khai ph và do Hợp t c xã chia theo định suất, trong đó, cụ T4, cụ T2 được chia mỗi người 01 sào, vợ chồng bà được chia mỗi người 02 sào, 03 con của ông bà được chia 05 sào; Cụ T8 (là mẹ của cụ T4) được chia 1/2 sào.
Sau khi cụ T4 chết, vợ chồng bà đã cắt cho ông B1 là anh trai cả ông T7 phần tiêu chuẩn ruộng của cụ T4 và của cụ Lê Thị T9 360m2, tổng là 720m2. Cắt cho cháu P (con ông B1) thửa 790, diện tích 835m2 và 600m2 đất vườn bãi ở thửa B. Khi cắt về cho gia đình ông B1 thì tất cả c c anh em trong gia đình đều đồng ý, phần đất cắt chưa được cấp bìa cho ông B1 và cháu P, nhưng đã được ghi nhận trong sổ thuế của gia đình.
Năm 2013, khi ông T7 còn s ng, ông bà đã tặng cho con g i là Phạm Thị H1 100m2; chuyển nhượng cho chị V1, anh S là con g i và con rể bà L1 192m2. Thủ tục chuyển nhượng cho chị V1 do ông T7 chồng bà thực hiện, bà không biết, chị V1, chị H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và điều chỉnh giảm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T7.
Bà T không đồng ý yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của bà H, vì bà đã bán đất cho anh Vũ Đức D1 diện tích 1.200m2 đất ở nên không còn hiện vật để chia, đề nghị được trả bằng tiền cho c c đồng thừa kế. Thủ tục b n bà đã nhận tiền của anh D1, chưa làm thủ tục giao đất cho anh D1 vì đang có tranh chấp với các anh em trong gia đình chồng bà. Gi trị thửa đất bà thoả thuận với anh D1 là 1.800.000.000đ, bà đã nhận 1.350.000.000đ.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T trình bầy bổ sung: Việc bà T mua bán đất với anh D1 là giấy viết tay và có hợp đồng đặt cọc s tiền mua b n đất, đến thời điểm hiện nay bà T đã nhận của anh D1 1.350.000.000đ là đúng, chưa thực hiện bàn giao và chỉ giới thửa đất.
Về gi đất, Hội đồng định giá thực hiện là cao nên đề nghị được triệu tập Hội đồng định giá tham gia phiên toà, bởi giá trị đất không phù hợp với địa phương gây thiệt hại cho đương sự khi phải thực hiện nghĩa vụ nộp án phí.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Tại biên bản lấy lời khai cụ Nguyễn Thị T2 trình bầy:
Về nguồn g c đất ở, đất vườn tại thửa s 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 2.160m2 và toàn bộ đất canh t c được cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ Phạm Văn T4 do vợ chồng mua lại từ năm nào cụ không nhớ. Vợ chồng cụ ở cùng con trai Phạm Xuân T7 và con dâu Nguyễn Thị T trên đất. Năm 1999 cụ T4 chết, cụ vẫn ở trên đất cùng con trai, khi con trai Phạm Xuân T7 chết cụ tiếp tục ở với con dâu Nguyễn Thị T, gần đây mới chuyển sang ở với con trai cả Phạm Văn B1. Quan điểm của cụ về việc bà H là con gái đề nghị chia di sản thừa kế phần của cụ T4 cụ không có ý kiến gì. Phần tài sản của cụ, cụ đã cho con trai và con dâu Nguyễn Thị T từ lâu nên không đòi lại, phần di sản của cụ được hưởng từ cụ T4 cũng tặng cho lại mẹ con bà T. Về tại sản trên đất hai gian nhà lợp Prô xi măng có công sức của ông T7 và bà T xây năm 1986, cụ không có ý kiến gì.
Ông Phạm Văn B1, bà Phạm Thị T3, Phạm Thị L1, Phạm Thị L2, Phạm Thị K1 trình bầy: Đều nhất trí với nội dung, yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về hàng thừa kế và di sản thừa kế của cụ T4. Đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của cụ T4 là thửa đất s 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 2.160m2 bằng hiện vật theo quy định pháp luật. Các ông bà T3, L1, L2, K1 nhất trí không yêu cầu các thừa kế khác phải trả chênh lệch giá trị phần tài sản được hưởng.
Chị Phạm Thị H1, chị Phạm Thị L3, anh Phạm Văn D, là con đẻ của ông T7, bà T trình bày:
Cụ T4, cụ T2 là ông, bà nội của c c anh chị, khi còn s ng cụ T4 đã tuyên b cho b mẹ chị toàn bộ đất ở tại thửa 409, tờ bản đồ s 2 và đất ruộng canh t c, thuộc xã V, huyện P, các con của cụ T4 cũng đồng ý. Năm 1999 cụ Phạm Văn T4 chết, c c con đẻ của cụ T4, cụ T2 đã lập biên bản họp gia đình cho b chị ông Phạm Xuân T7 được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc họp gia đình có đầy đủ c c con đẻ của cụ T4, cụ T2. Sau đó ông T7 đã làm thủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cụ T4 sang ông Phạm Xuân T7. Năm 2018 ông T7 chết, gia đình c c anh chị đã thoả thuận phân chia di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Chị H1, chị L3, anh D không nhất trí với đơn khởi kiện của bà H và các ý kiến trình bày của c c đồng thừa kế khác về việc yêu cầu phân chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật đ i với thửa đất s thửa 409, tờ bản đồ s 2. Trường hợp phải phân chia di sản thừa kế, chị H1, chị L3 được hưởng từ b , anh tặng cho lại cho mẹ anh là bà T toàn quyền sử dụng.
Anh Nguyễn Huy L4 trình bầy:
Anh là chồng của chị Phạm Thị H1, là con rể và con g i của ông T7, bà T. Năm 2013 anh được b mẹ vợ là ông Phạm Xuân T7, bà Nguyễn Thị Thanh t cho 100m2 loại đất ở tại thửa 409, tờ bản đồ s 2, tại xã V, thị xã P, ngày 05/02/2013 UBND huyện P (nay là thành ph P) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Huy L4, Phạm Thị H1. Năm 2014 vợ chồng anh xây dựng nhà trên đất và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Đề nghị Toà án xem xét theo quy định của pháp luật.
Chị Lê Thị V1 và anh Trần Duy S trình bầy:
Thửa đất 409a, tờ bản đồ s 2, diện tích 192 m2, tại xã V, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên, anh S, chị V1 nhận chuyển nhượng của ông Phạm Xuân T7, bà Nguyễn Thị T, được tách từ thửa đất s 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 2.160 m2, ngày 12/12/2014 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Duy S và Lê Thị V1. Vợ chồng anh, chị đã sử dụng ổn định, liên tục từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Nay c c đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T4 khởi kiện đề nghị chia di sản thừa kế của cụ T4 đ i với thửa đất 409, tờ bản đồ s 2, đề nghị Tòa n giải quyết theo quy định của ph p luật.
Anh Vũ Đức D1 trình bầy:
Ngày 12/8/2019, anh D1 và bà T viết giấy thỏa thuận đặt cọc mua b n thửa đất s 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 1.200m2 toàn bộ là đất ở, gi thoả thuận 1.800.000.000 đồng, anh đã đặt cọc 200.000.000 đồng, sau đó anh đã ba lần trả bằng tiền mặt. Tổng s tiền đặt cọc và trả tiền đất bà T nhận của anh là 1.350.000.000 đồng, s tiền còn lại 450.000.000đ, anh và bà T thoả thuận bằng miệng: khi nào làm xong thủ tục thanh to n n t, sau đó hai bên lập giấy thỏa thuận mua b n đất thổ cư. Về lý do chưa làm thủ tục chuyển nhượng hoặc hợp đồng đặt cọc qua công chứng hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là bà T giao hẹn đất đang có vấn đề tranh chấp trong gia đình để thời gian cho bà T dàn xếp. Vì vậy, đến nay anh chưa nhận đất từ bà T giao trả, bà T vẫn là người sử dụng và quản lý đất và nộp thuế, khi mua đất và lập giấy mua b n anh được bà T chỉ nói giao đất gi p phần nhà bà T đang ở. Nay anh yêu cầu bà T phải giao trả thửa đất s 409, tờ bản đồ s 02 có diện tích 1200 m2 cho anh.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định:
Thửa đất 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 2160 m2 tại xóm T, xã V, thành ph P, UBND huyện P cấp năm 1994 mang tên cụ Phạm Văn T4, trên giấy chứng nhận thể hiện còn 12 thửa đất nông nghiệp; đất ở được điều chỉnh giảm và cấp mang tên ông Phạm Xuân T7, bà Nguyễn Thị T. Ngày 10/8/2007 UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Xuân T7, bà Nguyễn Thị T đ i với thửa đất 409, tờ bản đồ s 2, diện tích 2.160m2, trong đó 1.800m2 đất ở, 360m2 đất trồng cây lâu năm.
Tài sản trên thửa đất gồm: Nhà cấp 4 xây dựng năm 1986, diện tích 66m2; nhà 2 tầng xây năm 2012 do ông T7, bà T xây; bếp xây năm 1986, diện tích 21m2 , 01 qu n xây gạch chỉ năm 2013; Ngoài ra còn có cây c i trên đất.
Căn cứ Quyết định 139/QĐ – UBND ngày 05/02/2013 điều chỉnh giảm 292m2 trong đó chuyển 100m2 cho chị Phạm Thị H1 là con g i; chuyển nhượng 192m2 cho chị Lê Thị V1, diện tích còn lại là 1.508m2 đất ở và 360m2 đất trồng cây lâu năm.
Thửa đất 1108 (được chỉnh lý từ thửa 409, tờ bản đồ s 2), diện tích 93m2 đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận QSD đất mang tên bà Nguyễn Thị T do Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh T cấp ngày 04/3/2019, tài sản trên đất là cây do bà T trồng.
Biên bản định giá tài sản xác định:
Đất ở có gi 9.000.000đ/m2; đất trồng cây lâu năm liền thửa với đất ở có gi = ½ đất ở = 4.500.000đ/m2
Tài sản trên đất: nhà 2 tầng xây năm 2012 có giá 893.440.000 đồng; Nhà cấp 4 (xây năm 1986) gi trị: 54.232.000 đồng; Công trình phụ tường gạch xây năm 1986 giá: 25.740.000 đồng; Bếp xây năm 1986, diện tích 21m2 có giá 8.190.000đ; Qu n xây gạch chỉ xây năm 2013 giá 258.651.000 đồng; Cây trên đất: Keo, xoan, sưa, xoài, dừa, mít, gạo, ổi có giá 3.540.000đ.
Tại bản n sơ thẩm s 12/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 Tòa án nhân thành ph P đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia thừa kế đ i với toàn bộ đất nông nghiệp có trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Phạm Văn T4.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Phạm Văn T4 theo ph p luật; Phân chia di sản thừa kế là QSD đất:
[2.1] Giao cho bà Phạm Thị H được quyền sử dụng 155,7 m2 đất ở thuộc thửa s 409, tờ bản đồ s 2, thuộc xóm T, xã V, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên, trị gi 1.401.300.000 đồng.
[2.2] Công nhận việc tặng cho QSD đất là tài sản của cụ T2 đ i với bà T. Chia cho bà Nguyễn Thị Thanh g kỷ phần thừa kế cụ T2 tặng cho và kỷ phần thừa kế của bà T được hưởng từ ông T7 (do cụ T2 và các con bà T đồng ý giao cho bà T được sử dụng kỷ phần được hưởng).
Giao cho bà T được quyền sử dụng 822,0m2 (trong đó: 692m2 đất ở và 130m2 đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa 409, tờ bản đồ s 2, thuộc xóm T, xã V, TP P, gi trị phần di sản được hưởng và tặng cho là: 1.085.000.000 đồng.
[2.3] Giao cho ông Phạm Văn B1 được quyền sử dụng diện tích 154,6m2 đất ở, thuộc thửa 409, tờ bản đồ 2, thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Th i Nguyên, gi trị đất là: 1.391.400.000 đồng
[2.4] Giao cho bà Phạm Thị L1 được quyền sử dụng diện tích 131,3m2 đất ở, thuộc thửa 409, tờ bản đồ 2, đất thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Thái Nguyên, gi trị đất là: 1.181.700.000 đồng.
[2.5] Giao cho bà Phạm Thị T3 được quyền sử dụng diện tích 86,1m2 đất ở, thuộc thửa 409, tờ bản đồ 2, thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Th i Nguyên, gi trị đất là: 774.900.000đ .
[2.6] Giao cho bà phạm Thị Lực được quyền sử dụng diện tích 86,6m2 đất ở, thuộc thửa 409, tờ bản đồ 2, thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Th i Nguyên, giá trị đất là: 779.400.000đ.
[2.7] Giao cho bà Phạm Thị K1 được quyền sử dụng diện tích 108,7m2 đất ở, thuộc thửa 409, tờ bản đồ 2, thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Th i Nguyên, giá trị đất là: 978.300.000 đồng.
3. Tài sản trên đất:
3.1.Tài sản trên đất giao cho bà T sử dụng tại vị trí đất s (1) là công trình nhà cấp 4, năm gian, công trình nhà bếp, công trình xây bằng gạch chỉ xây năm 1986 là công trình cụ T2, cụ T4 và công sức của bà T và ông T7 có gi trị 88.162.000đ. Công trình bà T và ông T7 xây dựng nhà chính hai tầng xây năm 2012 và toàn bộ cây c i, lâm lộc do hai cụ trồng và công sức ông T7, bà T chăm sóc.
3.2.Trên phần đất giao cho bà H, ông B1, bà T3, bà L1, bà K1 sử dụng có một s cây ăn quả, hàng rào xây gạch. Do đã tính to n công sức duy trì tôn tạo cho bà T nên tài sản là cây c i và tường rào bà H, ông B1, bà T3, bà L1, bà L2, bà K1 được quyền sử dụng mà không phải trích trả gi trị công trình cho bà T và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T7.
3.3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H và c c đồng thừa kế không yêu cầu phân chia công trình cây c i, lâm lộc trên đất mà nhất trí giao cho bà T được quyền quản lý và sử dụng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được chia quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
4. Bà Nguyễn Thị T, chị Phạm Thị H1 với anh Nguyễn Huy L4; chị Lê Thị V1, anh Trần Duy S được tiếp tục sử dụng thửa đất được cấp giấy chứng nhận QSD đất như sau:
4.1. Bà Nguyễn Thị T được tiếp tục sử dụng thửa đất 1108 (được chỉnh lý từ thửa 409, tờ bản đồ s 2), diện tích 93m2 đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất s CQ 409471 mang tên bà Nguyễn Thị T do Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh T cấp ngày 04/3/2019. Vị trí đất thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Chị Phạm Thị H1 và anh Nguyễn Huy L4 được tiếp tục sử dụng thửa đất s 409b, tờ bản đồ s 2, diện tích 100m2. Giấy chứng nhận QSD đất s BM 080456 do UBND huyện P (nay là thành ph P) cấp ngày 05/02/2013, vào sổ cấp giấy chứng nhận s 491/QSD Đ/1359/QĐ – UBND mang tên Phạm Thị H1, Nguyễn Huy L4. Vị trí đất thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
4.3. Anh Trần Duy S và chị Lê Thị V1 được tiếp tục sử dụng thửa đất s 409a, tờ bản đồ s 2, diện tích 192m2. Giấy chứng nhận QSD đất s BU 843574, vào sổ cấp giấy chứng nhận s QSD Đ/12.085/QĐ – UBND cấp ngày 12/12/2014 giấy chứng nhận mang tên Trần Duy S và Lê Thị V1. Vị trí đất thuộc xóm T, xã V, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
5. Đ i với giấy thoả thuận mua b n đất và Hợp đồng đặt cọc mua b n đất lập giữa anh Vũ Đức D1 với bà Nguyễn Thị T: Dành quyền khởi kiện cho anh Vũ Đức D1 đ i với bà Nguyễn Thị T trong vụ kiện tranh chấp dân sự khác.
Ngoài ra n sơ thẩm còn tuyên về n phí, chi phí t tụng và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 06/10/2022, bị đơn bà Nguyễn Thị T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị H1, chị Phạm Thị L3, anh Phạm Văn D, anh Nguyễn Huy L4, anh Vũ Đức D1 có đơn kháng cáo bản n sơ thẩm. Nội dung kháng cáo, bị đơn và những người liên quan cho rằng n sơ thẩm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của c c đương sự, đề nghị huỷ toàn bộ n sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định.
Tại phiên toà phúc thẩm, c c đương sự giữ nguyên nội dung trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tranh luận cho rằng: Toà án cấp sơ thẩm đã không xem xét lời trình bày của bị đơn về việc ông T5 là hàng thừa kế thứ nhất đã chết, nhưng có vợ, con để đưa c c con ông T5 tham gia t tụng với tư c ch là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được hưởng thừa kế thế vị của ông T5 theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục t tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp ph p cho nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn tranh luận cho rằng: Tại phiên toà phúc thẩm ph t sinh người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thuộc diện được hưởng thừa kế. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa n sơ thẩm, chia thêm một kỷ phần thừa kế cho họ theo quy định.
Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên ph t biểu quan điểm: Thẩm ph n chủ tọa, Hội đồng xét xử, c c đương sự chấp hành đúng c c quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về đường l i giải quyết vụ n: Tại cấp phúc thẩm có căn cứ x c định ông Phạm Văn T10 thuộc hàng thừa kế thứ nhất đã chết, nhưng có vợ, con thuộc diện được hưởng thừa kế theo ph p luật, nhưng chưa được Toà n cấp sơ thẩm xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kh ng c o của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, huỷ n sơ thẩm, giao hồ sơ cho Toà n nhân dân thành ph Phổ Yên giải quyết lại theo đúng quy định của ph p luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t ph t biểu ý kiến, Hô i đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kh ng c o trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng n phí phúc thẩm hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kh ng c o của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thấy:
Về hàng thừa kế và diện thừa kế:
Trong qu trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bà T khai trong hàng thừa kế thứ nhất, ông Phạm Xuân T5, sinh năm 1949, chết năm 1983, có vợ là bà S2, có con là chị V1. Tuy nhiên, bà T không cung cấp được họ tên, ngày th ng năm sinh, địa chỉ của những người này. Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kh c cho rằng ông T5 không có vợ, con.
Tại biên bản x c minh của Toà n nhân dân thành ph Phổ Yên ngày 25/7/2022, UBND xã V, thành ph P cung cấp : Ông Phạm Văn T10, sinh năm 1949, chết năm 1983, người đi khai tử cho ông T10 là ông B1, em trai ông T10. Tại thời điểm chết ông T10 không có vợ, con. Không có căn cứ x c định ông T10 có đăng ký kết hôn với ai và có vợ con không. Thời gian trước khi ông T10 chết năm 1983, ông T10 có đi khỏi địa phương, việc ông T10 có vợ, con ở bên ngoài hay không địa phương không nắm được. Vì vậy, Toà n cấp sơ thẩm không có căn cứ x c định và đưa những người thừa kế của ông T10 tham gia t tụng với tư c ch là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp ph p cho bị đơn cho rằng ông T10 chết, nhưng có vợ, con, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để thu thập bản n hình sự xét xử ông Phạm Văn T10 hiện đang lưu trữ tại Cục H2 nghiệp vụ Bộ C để x c định ông T10 có vợ và con hay không.
Tại Văn bản s 56713.V06-P5 ngày 28/6/2023 của Cục H2 nghiệp vụ Bộ C kèm theo bản n hình sự và c c tài liệu liên quan kh c gửi Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên x c định: Ông Phạm Văn T10 sinh ngày 21/10/1949; sinh quán: Xóm T, Vạn P1; Trú qu n: Hợp Thành, P, B, tên cha là Phạm Văn T4, tên mẹ là Nguyễn Thị T2, tên vợ là Đỗ Thị S3, con là Phạm Thu V2. Ông T10 chết ngày 13/7/1984 tại Trại Quản lý và cải tạo phạm nhân s 5.
Do phát sinh người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thuộc diện được hưởng thừa kế theo pháp luật, là tình tiết mới, chưa được Toà án cấp sơ thẩm xem xét, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp ph p cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa n sơ thẩm, chia một kỷ phần thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế thế vị của ông Phạm Văn T10. Tuy nhiên, việc chia thêm kỷ phần thừa kế tại cấp phúc thẩm vi phạm nguyên tắc Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm quy định tại Điều 17 Bộ luật t tụng dân sự và quyền kháng cáo của các đương sự.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm s 12/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa n nhân dân thành ph Phổ Yên, tỉnh Th i Nguyên, giao hồ sơ cho Toà n nhân dân thành ph Phổ Yên giải quyết lại theo thủ tục chung theo quy định.
Nội dung kháng cáo của anh Vũ Đức D1 sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm.
Về n phí: C c đương sự kh ng c o không phải chịu n phí dân sự phúc thẩm, được hoàn trả tiền tạm ứng n phí phúc thẩm đã nộp.
Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí t tụng: Được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự; chấp nhận kh ng c o của bị đơn bà Nguyễn Thị T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị H1, chị Phạm Thị L3, anh Phạm Văn D, anh Nguyễn Huy L4, anh Vũ Đức D1; Huỷ toàn bộ bản n dân sự sơ thẩm s 12/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân thành ph P, tỉnh Th i Nguyên.
Giao hồ sơ cho Toà n nhân dân thành ph Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của ph p luật.
2. Về n phí:
2.1. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T, chị Phạm Thị H1, chị Phạm Thị L3, anh Phạm Văn D, anh Nguyễn Huy L4, anh Vũ Đức D1 không phải chịu n phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả Bà Nguyễn Thị T, chị Phạm Thị H1, chị Phạm Thị L3, anh Phạm Văn D, anh Nguyễn Huy L4, anh Vũ Đức D1 mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu s : 0002368, 0002369, 0002370, 0002371, 0002372, 0002373 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Phổ Yên, tỉnh Th i Nguyên.
2.2. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí t tụng: được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Th i Nguyên; - TAND thành ph Phổ Yên; - Chi cục THADS TP. Phổ Yên; - C c đương sự; - Lưu hồ sơ vụ n. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đ k ) Hoàng Qu Sửu |