vanban.org

Bản án 44/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thế T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/02/2026).

Giao bị cáo Dương Thế T cho Uỷ ban nhân dân phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Dương Thế T) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thế T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thế T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/02/2026).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2026/HS-ST
Ngày 10/2/2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Biên;

2. Bà Nguyễn Thị Lan;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2026/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Thế T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ dân phố TR, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; con ông Dương Văn D, sinh năm 1975 và bà Dương Thị T1, sinh năm 1978; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt).

*Bị hại: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm: 1982 Địa chỉ: Thôn C1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Anh Lý Văn D1, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Xóm C1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1950; Địa chỉ: Xóm ĐG1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

- Cháu Lý Văn G, sinh năm: 2012; Địa chỉ: Xóm C1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

- Cháu Lý Văn TH, sinh năm: 2016; Địa chỉ: Xóm C1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Lý Văn G và cháu Lý Văn TH: Anh Lý Văn D1, sinh năm: 1983; Nơi thường trú: Xóm C1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của anh Lý Văn D1 và bà Nguyễn Thị Q: Chị Hoàng Thị H, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Thôn ĐG1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn D, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ dân phố TR, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

*Người làm chứng:

- Anh Ninh Thanh B, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Xóm NM, xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

- Anh Dương Quý S, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thế T, sinh năm 1997, trú tại Tổ dân phố TR, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh có Giấy phép lái xe hạng A1 số 240222001452 do Sở giao thông vận tải Bắc Giang cấp ngày 10/01/2022.

Buổi tối ngày 28/9/2025, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98N6-9872 đi đến nhà cô ruột là Dương Thị N, sinh năm 1985 ở tổ dân phố C2, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi từ nhà chị N ra về. Khi T điều khiển xe đi đến đoạn đường bê tông gần nghĩa trang tổ dân phố C2, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh thì thời điểm này có chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1982, trú tại thôn C1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng và anh Nịnh Thanh B, sinh năm 1980, trú tại xóm NM, xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đang đi bộ phía trước cùng chiều ở bên phải đường. Trong đó, chị C đi phía bên ngoài cách mép đường bên phải khoảng 60cm còn anh B đi phía trong. Thời điểm này trời tối và có mưa nhỏ. Theo T khai điều khiển xe mô tô đi với vận tốc khoảng 40km/h. Do không chú ý quan sát nên xe mô tô do T điều khiển đã va chạm với chị C (phần đầu, bánh trước xe mô tô va chạm vào người chị C). Hậu quả làm chị C bị ngã xuống đường, xe mô tô biển kiểm soát 98N6-9872 do T điều khiển bị đổ xuống đường. Anh B nói xe mô tô của T đã đâm vào chị C. T nhìn thấy chị C đang trong trạng thái bất tỉnh nên đi đến gần và sờ vào động mạch ở cổ nhưng không thấy chị C có phản ứng nên nghĩ chị C đã bị chết. T khai do sợ nên điều khiển xe mô tô đi khỏi hiện trường và về nhà. Chị C bị thương nặng được anh B và người dân đưa đến Bệnh viên đa khoa Bắc Ninh số 1 cấp cứu sau đó bị chết.

Ngày hôm sau, Dương Thế T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đầu thú và khai nhận hành vi điều khiển xe mô tô gây ra vụ tai nạn làm chị C chết. T giao nộp 01 quần sóc màu trắng có hoa văn nhiều màu; 01 chiếc ao phông không cổ cộc tay màu trắng là trang phục mà T mặc khi điều khiển xe mô tô gây tai nạn; 01 đăng ký xe mô tô số 002822 mang tên Dương Thị T1; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98N6-9872; 01 mảnh nhựa vỡ; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Thế T do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp. Kết quả xét nghiệm đối với Dương Thế T ngày 29/9/2025 âm tính với các chất ma túy.

* Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng: Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại đường bê tông thuộc tổ dân phố C2, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh. Mặt đường được trải bê tông thẳng, phẳng rộng 5,5m, hai bên là lề đất và ruộng lúa; Lấy mép đường bên phải theo hướng tổ dân phố C2 đi đường Võ Văn Kiệt làm chuẩn và làm chiều khám nghiệm; lấy cột điện ký hiệu (01) bên trái đường làm mốc. Mô tả dấu vết trên hiện trường:

Chiếc dép màu trắng cao gót dạng chân bên phải, quai dép hoa văn màu đen trắng, để dép có ký hiệu “205(15)”, điểm gần nhất cách mốc về phía đường Võ Văn Kiệt 8,8m, cách mép đường trái 0,8 m, rơi trên mặt đường (ký hiệu số 1)

Dấu vết màu nâu đỏ dạng loang trên mặt đường có màu nâu nhạt do thời tiết mưa lớn, kích thước (0,8x0,7) m. Tâm vết cách chiếc dép ký hiệu số 1 về phía đường Võ Văn Kiệt là 3m, các mép chuẩn là 3,2m (ký hiệu số 2).

Dấu vết mảnh nhựa kim loại vỡ trên mặt đường, trên diện kích thước (0,17x0,07) m, mảnh nhựa màu xanh, điểm gần nhất cách tâm vết số 2 về phía đường Võ Văn Kiệt là 2,7m, cách mép chuẩn 0,56m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc dép màu trắng bên phải và 01 mảnh nhựa vỡ.

Ngày 09/11/2025, Cơ quan điều tra dựng lại hiện trường xác định: Vị trí xảy ra vụ tai nạn giao thông tại đường bê tông thuộc tổ dân phố Chiền, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh; phần trục bánh trước và trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98N6-9872 khi va chạm với chị Nguyễn Thị C cách mép đường bên phải lần lượt là 0,6m và 0,5m. Sau khi va chạm, xe mô tô bị đổ nghiêng bên phải.

* Khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị C:

Khoang miệng có máu không đông chảy từ trong ra. Cung màu và xung quanh mắt trái có diện xây xát da kích thước (3,5x1,7)cm, vùng trán trái và cằm trái có diện xây xát da kích thước (15x4,5)cm. Vùng sườn trái có diện xây xát da kích thước (13,5x8,5)cm. Mặt sau, trong khuỷu tay trái có diện xây xát da kích thước (4x3)cm. Mặt sau khuỷu tay phải có diện xây xát da kích thước (2x1,5)cm. Mặt trong cẳng chân phải có vết xây xát da kích thước (2x1,8)cm. Mặt sau cẳng chân phải có diện xây xát da kích thước (4,3x3)cm. Mặt trong bàn chân phải có vết xây xát da kích thước (0,8x0,5)cm. Mắt cá ngoài bàn chân trái có diện xây xát da kích thước (3x1,5)cm. Vùng thái dương đỉnh phải có diện sưng nề, xây xát da kích thước (4,5x4)cm.

Giải phẫu vùng đầu: Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng thái dương đỉnh phải kích thước (7x5)cm. Tụ máu tổ chức dưới da cơ thái dương trái kích thước (8x5,5)cm. Tụ máu dưới màng cứng, chảy máu màng mềm lan toả hai bên bán cầu. Vỡ phức tạp xương nền sọ sau thành nhiều đường (xương chẩm 2 bên), qua đường vỡ có máu chảy ra.

* Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98N6-9872:

Cạnh trước đầu tay nắm phải có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng bột đá kích thước 2,3 x 0,5 (cm); Đầu ngoài tay phanh bên phải có vết mày sát kim loại kích thước 1,8x1 (cm).

Cạnh ngoài bàn đạp chân phanh có dấu vết mài sát kim loại kích thước 2x0,2 (cm); Đầu ngoài để chân trước bên phải có về mài sát kim loại kích thước 1,2x1,2 (cm); Cần gương chiếu hậu bên trái xoay tự nhiên.

Ốp nhựa đầu bên trái bật chốt cố định kích thước 5x1 (cm). Ốp nhựa đầu xe bên trái tại vị trí phía dưới đèn xe xi nhan trước bên trái có vết vỡ khuyết nhựa kích thước 9,5x4 (cm).

Ốp nhựa phía trước đầu xe (mặt nạ) có vết dập vỡ nhựa, mài sát nhựa, bẹp móp nhựa trên diện kích thước 20x9 (cm); Đầu cánh yếm bên trái bật chốt cố định.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị C và cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông.

Kết luận giám định tử thi số 3101/KLGĐTT-KTHS ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị C do chấn thương sọ não: Vỡ xương nền sọ, tụ máu dưới màng cứng, chảy máu màng mềm lan toả hai bán cầu.

Kết luận giám định số 3421/KL-KTHS ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

1. Dấu vết bẹp lõm, gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, cao su, sạch bụi đất, bám sợi màu nâu trắng tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N6 - 9872 gồm phía dưới ốp nhựa đầu xe, mặt nạ, cánh yếm và má lốp bánh trước, có hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 12, 14, 16, 17 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày, có bề mặt dạng vải sợi (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên.

- Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất bột màu trắng tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98N6 - 9872 gồm đầu tay nắm, đầu tay phanh, chân phanh, để chân trước được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên.

2. Mảnh nhựa vỡ thu tại vị trí số 3 trên hiện trường được gãy vỡ, tách ra từ phía dưới bên trái ốp nhựa đầu xe mô tô biển kiểm soát 98N6 - 9872.

3. Không xác định vị trí xảy ra va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98N6 - 9872 với người đi bộ trên mặt đường qua dấu vết cơ học, do hiện trường đã bị xáo trộn.

4. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98N6 - 9872 với phương tiện khác.

5. Không xác định được chiều hướng chuyển động, tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 98N6 - 9872 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu mẫu máu của Dương Thế T và của chị Nguyễn Thị C.

Bản kết luận giám định hóa pháp số 2642/PY-XNĐH ngày 27/10/2025 của Viện pháp y Quân đội kết luận:

- Không tìm thấy Ethanol trong mẫu máu của Dương Thế T.

Bản kết luận giám định hóa pháp số 2636/PY-XNĐH ngày 27/10/2025 của Viện pháp y Quân đội kết luận:

- Tìm thấy Ethanol trong mẫu máu của Nguyễn Thị C, nồng độ 73,4mg/100,l máu.

- Không tìm thấy các chất ma tuý trong máu của Nguyễn Thị C.

Cơ quan điều tra đã cho anh Nịnh Thanh B nhận dạng ảnh của Dương Thế T. Kết quả anh B nhận đúng ảnh và xác định T là người điều khiển xe mô tô gây tai nạn ngày 28/9/2025 làm chị Nguyễn Thị C bị chết.

Kết quả xác minh tại Phòng CSGT Công an tỉnh Bắc Ninh xác định Dương Thế T có Giấy phép lái xe hạng A1 số 240222001452 do Sở giao thông vận tải Bắc Giang cấp ngày 10/01/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã bồi thường cho gia đình cho gia đình chị Nguyễn Thị C 300.000.000 đồng. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1984, trú tại thôn ĐG1, xã Nam Tuấn, tỉnh Cao Bằng là đại diện hợp pháp của người bị hại theo uỷ quyền không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị H 01 chiếc dép xỏ chân màu trắng bên phải; trả lại cho ông Dương Văn D là bố Bị cáo T chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N6-9872 kèm theo đăng ký xe mô tô và 01 mảnh nhựa vỡ.

Đối với giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Thế T và bộ quần áo được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 29 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Dương Thế T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Dương Thế T trình bày: Diễn biến sự việc và hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh đã nêu. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điểm, điều, khoản trên là đúng người, đúng tội. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Người đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn D trình bày: Ông không có ý kiến gì trong vụ án đề nghị Hội đồng xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Không ai có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thế T 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả bị cáo T 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 240222001452 mang tên Dương Thế T do Sở giao thông vận tải Bắc Giang cấp ngày 10/01/2022; Tịch thu tiêu hủy 01 quần sóc màu trắng có hoa văn nhiều màu; 01 chiếc áo phông không cổ cộc tay màu trắng.

- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, được cải tạo và giáo dục tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng, chứng cứ, tài liệu của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định, chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi, chứng cứ, tài liệu này đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đại diện theo ủy quyền của bị hại là chị Hoàng Thị H có xin đơn xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt không có lý do. Xét thấy những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử là đảm bảo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, lời khai của người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Dương Thế T có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 28/9/2025, T điều khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98N6-9872 đi đến đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố Chiền, phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh do không chú ý quan sát nên đã va chạm với chị Nguyễn Thị C đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả làm chị C bị thương nặng sau đó chết. Sau khi gây ra tai nạn, T điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường nhằm trốn tránh trách nhiệm.

[3.2] Xét thấy bị cáo Dương Thế T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 26 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và an toàn về tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.

Xét về lỗi: Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông do lỗi hỗn hợp. Bị cáo Dương Thế T điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát nên đã va chạm với chị Nguyễn Thị C đang đi bộ cùng chiều phía trước vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Bị hại là chị Nguyễn Thị C có lỗi đi bộ nhưng không đi sát vào mép đường bên phải theo chiều đi, vi phạm điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo đầu thú, đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng và đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị xét xử, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Sau khi phạm tội, bị cáo T làm nghề tự do, không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Dương Thế T đã bồi thường cho gia đình bị hại chị Nguyễn Thị C số tiền 300.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa các bên không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng, đồ vật bị thu giữ: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 240222001452 mang tên Dương Thế T do Sở giao thông vận tải Bắc Giang cấp ngày 10/01/2022 của bị cáo nên trả lại bị cáo; Đối với 01 quần sóc màu trắng có hoa văn nhiều màu; 01 chiếc áo phông không cổ cộc tay màu trắng của bị cáo, có giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Dương Thế T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác có liên quan: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị H 01 chiếc dép xỏ chân màu trắng bên phải; trả lại cho ông Dương Văn D là bố bị cáo T chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N6-9872 kèm theo đăng ký xe mô tô và 01 mảnh nhựa vỡ là phù hợp quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thế T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/02/2026).

Giao bị cáo Dương Thế T cho Uỷ ban nhân dân phường Tiền Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Dương Thế T) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Dương Thế T 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số 240222001452 mang tên Dương Thế T do Sở giao thông vận tải Bắc Giang cấp ngày 10/01/2022; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần sóc màu trắng có hoa văn nhiều màu; 01 (một) chiếc áo phông không cổ cộc tay màu trắng. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/01/2026 giữa bên giao Công an tỉnh Bắc Ninh với bên nhận Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Thế T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ