vanban.org

Bản án 44/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 30/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 0,212 (Không phẩy hai trăm mười hai) gam Heroine còn lại sau giám định cùng 01 mảnh nilon màu xanh và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của phòng KTHS – Công an tỉnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hầu A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tống tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44 /2025/HSST
Ngày 30 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tưởng Thị Tuyết

2. Bà Đinh Thị Hạnh

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Minh Phương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7

- Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trần Duy Khoái - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (cũ)

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/HSST-QĐ ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Hầu A, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại xã T, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: thôn B, xã T, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hầu Chỉn Hòa và bà Thào Thị Cở. Bị cáo có vợ là Tráng Thị Pà, bị cáo có 02 lớn nhất sinh năm 2004 nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án: Không; tiền sự: không. Nhân thân: Xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, tại Quyết định số 165/QĐ –UBND ngày 06/7/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp giáo dục tại xã T do Hầu A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 03 tháng từ ngày 06/7/2021 đến ngày 06/10/2021. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2025, tạm giam từ ngày 05/6/2025. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Lào Cai “Có mặt tại phiên tòa”.

Người bào chữa cho các bị cáo Hầu A là Bà Đỗ Thị Lan Oanh - sinh năm 1980 Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai (Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Ông Lý S – sinh năm 1997 Địa chỉ: thôn B, xã T, tỉnh Lào Cai (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 30/5/2025 tổ công tác Công an xã T làm nhiệm vụ tại thôn B, xã T phát hiện Hầu A có biểu hiện phạm tội nên tiến hành kiểm tra. Khi kiểm tra, Hầu A tự giác lấy từ góc nhà trong phòng khách ra 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục, Hầu A khai là ma tuý Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hầu A và niêm phong vật chứng theo quy định trước sự chứng kiến của ông Lý S.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Hầu A nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Về nguồn gốc ma túy Hầu A khai nhận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 30/5/2025, Hầu A từ nhà đi bộ đến nhà của Vàng A Páo ở cùng thôn B, xã T mục đích để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nhà gặp Páo, Hầu A hỏi mua 01 (Một) gói ma túy của Páo với giá 200.000đồng (Hai trăm năm nghìn đồng), Páo nhận tiền rồi đưa lại cho Hầu A 01 (Một) gói ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, Hầu A cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà, đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày khi đang đứng trước cửa nhà thì thấy lực lượng Công an đến nên Hầu A đã thả gói ma túy vào góc nhà bên trái trong phòng khách theo hướng từ cửa vào thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai ra quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ ngày 30/5/2025 của Hầu A.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai ngày 30/5/2025 đã xác định: Bì niêm phong bên trong có 01 (một) gói được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, bên trong gói chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Khối lượng của chất bột khô, màu trắng, vón cục là 0,261 (không phẩy hai trăm sáu mươi mốt) gam. Trích giám định 0,049 (không phẩy không trăm bốn mươi chín) gam, còn lại 0,212 (không phẩy hai trăm mười hai) gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

Kết luận giám định số 170/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,261 (không phẩy hai trăm sáu mươi mốt) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (Hêrôin).

Cáo trạng số 19/CT- VKSKV7 ngày 09/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố bị cáo Hầu A về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diệnViện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hầu A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hầu A với mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,212 (không phẩy hai trăm mười hai) gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 (Một) mảnh nilon màu xanh và bì niêm phong ban đầu gửi giám định.

Án phí Hình sự: Bị cáo Hầu A thuộc hộ nghèo có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh Lào Cai và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hầu A.

Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa trình bày lời bào chữa đối với bị cáo Hầu A. Đề nghị Hội đồng xét xét xử căn cứ và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo là người dân tộc thiểu số hạn chế về nhận thức, hiểu biết xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hầu A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo với mức án 01 (Một) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo Hầu A thuộc hộ nghèo có giấy chứng nhận của UBND xã T, tỉnh Lào Cai và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hầu A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tống tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 30/5/2025, Hầu A từ nhà đi bộ đến nhà Vàng A Páo mục đích để mua ma túy về sử dụng. Khi đến gặp Vàng A Páo, Hầu A hỏi mua 01 (Một) gói ma túy với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), Vàng A Páo nhận tiền rồi đưa cho Hầu A 01 (Một) gói ma túy, Hầu A cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà, đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày khi đang đứng trước cửa nhà thì thấy lực lượng Công an đến nên Hầu A đã thả gói ma túy vào góc nhà bên trái trong phòng khách theo hướng từ cửa vào thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hầu A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng ngày 30/5/2025 bị cáo đã mua 0,261 gam (Không phẩy hai trăm sáu mươi mốt) gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.Vì vậy, cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Hành vi phạm tội của bị cáo Hầu A vào ngày 30/5/2025, vì vậy bị cáo Hầu A không bị áp dụng mức hình phạt theo quy định điểm a khoản 1 Điều 249 của Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/06/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu. Tại Quyết định số 165/QĐ – UBND ngày 06/7/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp giáo dục tại xã T do Hầu A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 03 tháng từ ngày 06/7/2021 đến ngày 06/10/2021.

Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với Vàng A Páo là người đã bán ma túy cho Hầu A ngày 30/5/2025, quá trình điều tra xác minh xác định Vàng A Páo ở tại thôn B, xã T, tỉnh Lào Cai. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng A Páo nhưng không phát hiện thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy. Do chỉ có duy nhất lời khai của Hầu A, mặt khác Vàng A Páo không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì nên cơ quan chưa thu thập được tài liệu gì khác chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Vàng A Páo do đó chưa có đủ căn cứ để xử lý đối với Vàng A Páo, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì riêng, thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Sau giám định số vật chứng còn lại 0,212 (không phẩy hai trăm mười hai) gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 (Một) mảnh nilon màu xanh và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Hầu A có giấy chứng nhận hộ nghèo của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lào Cai và bị cáo có đơn xin miễn án phí. Vì vậy bị cáo Hầu A được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hầu A 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 30/5/2025.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 0,212 (Không phẩy hai trăm mười hai) gam Heroine còn lại sau giám định cùng 01 mảnh nilon màu xanh và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của phòng KTHS – Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang của Hầu A tại thôn B, xã T, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 30/5/2025”.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2025 giữa Công an tỉnh Lào Cai và Phòng thi hành án khu vực 7 – Lào Cai).

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Hầu A được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ