vanban.org

Bản án 44/2025/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giam trước đó từ ngày 14/7/2023 đến ngày 17/11/2023.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giam trước đó từ ngày 14/7/2023 đến ngày 17/11/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-PT
Ngày: 20 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Hùng

Các Thẩm phán:

1. Ông Đặng Hồng Sơn

2. Ông Ngô Ngọc Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 428/2024/TLPT-HS ngày 12/11/2024 đối với bị cáo Trương Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 223/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trương Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1972, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: Đường T, phường C, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trương Văn D và Nguyễn Thị Kim A; có 01 vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ U (sau đây gọi tắt là Công ty U) do ông Trương Thành D2 là người đại diện theo pháp luật có trụ sở tại địa chỉ: Đường Q, khu phố M, phường T, quận H chuyên kinh doanh mua bán, trao đổi xe ô tô. Công ty U giao nhiệm vụ cho Trương Văn T thực hiện nhiệm vụ di dời xe tại công ty và lái xe giao cho khách hàng khi có yêu cầu.

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 13/7/2023, Công ty U chuẩn bị đóng cửa trụ sở nên Trương Văn T đã mở chìa khóa khởi động máy xe của các xe ô tô đỗ sát bên ngoài công ty (trong đó có xe ô tô tải biển số 50H - 228.87, 60C - 509.69 và 51C- 355.78), chờ cho xe sạc đầy hơi thì sẽ lùi xe vào công ty để đóng cửa. Trương Văn T thực hiện việc nổ máy xe ô tô tải biển số 50H - 228.87 và xe ô tô tải biển số 60C-509.69 bằng cách mở cánh cửa bên trái cabin xe, hai chân đứng ở bậc lên xuống của cabin, tay trái vịn vô lăng, tay phải kiểm tra cần số rồi tiếp tục dùng tay phải mở chìa khóa khởi động máy xe. Khi đến xe ô tô biển số 51C - 355.78, Trương Văn T thực hiện việc nổ máy xe tương tự như 02 xe trước đó, tuy nhiên do cẩu thả, Trương Văn T không kiểm tra cần số nên không biết xe ô tô biển số 51C - 355.78 đã được cài số. Vào thời điểm Trương Văn T vặn chìa khóa khởi động máy úc đó, Trương Văn T không ngồi vào vị trí lái dẫn đến việc xe ô tô biển số 51C - 355.78 nổ máy rồi bất ngờ di chuyển tiến về phía đường Q lần lượt va chạm với:

- Xe mô tô biển số 59V1 - 504.70 do Phạm Thị D điều khiển chở cháu Trần T2 (ngồi sau cùng) và cháu Đoàn Phạm Thanh T3 (sinh ngày 26/6/2012, lúc này 10 tuổi 06 tháng 17 ngày - ngồi giữa) lưu thông trên làn đường hỗn hợp của đường Q, hướng từ cầu B về hướng giao lộ đường Q và đường R.

- Xe mô tô biển số 59Y3 - 487.30 do chị Nguyễn Thúy H điều khiển lưu thông bên trái cùng chiều với xe mô tô biển số 59V-504.70.

- Xe ô tô khách biển số 83F - 001.55 do Tà Minh S điều khiển lưu thông bên trái cùng chiều với xe mô tô biển số 59Y3 - 487.30. Hậu quả làm cháu Đoàn Phạm Thanh T3 và chị Phạm Thị D bị thương nặng sau đó tử vong, chị Nguyễn Thúy H bị thương tích, các phương tiện liên quan bị hư hỏng. Sau tai nạn, Trương Văn T đã đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 7777-23/KL-KTHS ngày 15/8/2023 xác định Phạm Thị D chết do đa chấn thương gồm: rách da trái phải - cung mày phải, do tiếp xúc với vật tày có cạnh gây ra; các tổn thương còn lại trên người nạn nhân do tiếp xúc với vật tày gây ra. Theo Kết luận giám định số 7746-23/KL-KTHS ngày 10/8/2023 xác định Đoàn Phạm Thanh T3 chết do chấn thương ngực kín bao gồm: các vết xây xát da, bầm tụ máu vùng ngực do tác động trực tiếp với vật tày; các vết xây xát da, bầm tụ máu còn lại do tác động trực tiếp với vật tày gây ra. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 312/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, kết luận: “Chi phí khắc phục, sửa chữa thiệt hại của xe ô tô khách biển số 83F-001.55 là: 60.156.000 đồng; Chi phí khắc phục, sửa chữa thiệt hại của xe mô tô biển số 59Y3 – 487.30 là: 4.695.000 đồng; Chi phí khắc phục, sửa chữa thiệt hại của xe mô tô biển số 59V1-504.70 là: 4.420.000 đồng”. Tổng giá trị thiệt hại là 69.271.000 đồng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 223/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12 đã quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Văn T 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giam trước đó từ ngày 14/7/2023 đến ngày 17/11/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/09/2024, bị cáo Trương Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời gian luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo Trương Văn T có đầy đủ nhận thức nhận biết việc khởi động xe nhưng không ngồi vào vị trí ghế lái, không kiểm tra kỹ cần số chứa đựng tiềm tàng những rủi ro, gây nguy hiểm cho xã hội và những người xung quanh. Nhưng do chủ quan, cẩu thả, bị cáo Trương Văn T đã thực hiện hành vi trên, dẫn đến vụ va chạm với 03 xe đang lưu thông trên đường. Hậu quả gây tai nạn làm 02 người chết và gây thiệt hại về tài sản là 69.271.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo Trương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với căn cứ các tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm các tài liệu mới để bổ sung nội dung kháng cáo. Theo đó, cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để xử phạt 03 năm tù là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ mức hình phạt 03 năm tù của bản án sơ thẩm.

Bị cáo Trương Văn T không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo vì là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ và phụng dưỡng mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Văn T trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo Trương Văn T cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 13/7/2023, tại trụ sở Công ty U, địa chỉ đường Q, khu phố M, phường T, quận H, bị cáo Trương Văn T khởi động xe ô tô tải biển số 51C - 355.78 nhưng do bất cẩn, Trương Văn T không ngồi vào vị trí ghế lái, không kiểm tra kỹ cần số nên không biết xe đã được cài số, dẫn đến khi Trương Văn T vặn chìa khóa khởi động máy xe thì xe nổ máy và bất ngờ di chuyển tiến về phía đường Q, xảy ra va chạm với 03 xe đang lưu thông trên đường. Hậu quả gây tai nạn dẫn đến chị Phạm Thị D, cháu Đoàn Phạm Thanh T3 tử vong, chị Nguyễn Thúy H bị thương, gây thiệt hại tài sản là các phương tiện liên quan với tổng trị giá 69.271.000 đồng. [4] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trương Văn T đã thực hiện việc khởi động xe ô tô mà không kiểm tra kỹ cần số, không ngồi vào vị trí ghế lái, dẫn đến việc xe tự di chuyển ra đường và gây ra tai nạn. Đây là hành vi thiếu trách nhiệm, cẩu thả trong việc điều kiện phương tiện giao thông, vi phạm nghiêm trọng các quy tắc an toàn, đặc biệt khi xe tải là loại phương tiện có khả năng gây ra rủi ro cao. Hành vi này dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm 02 người tử vong, 01 người bị thương và gây thiệt hại lớn về tài sản. Hành vi của Trương Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, không oan sai. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Trần Hữu C là chồng của bị hại Phạm Thị D và ông Đoàn Ngọc P là cha của bị hại Đoàn Phạm Thanh T3 làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết mới, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, xét thấy tuy bị cáo phạm tội vô ý do cẩu thả, nhưng đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, nên không có cơ sở để chấp nhận. [5] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần, nên bị cáo Trương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn T, sửa mức hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 223/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Trương Văn T như sau: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Văn T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giam trước đó từ ngày 14/7/2023 đến ngày 17/11/2023.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ