vanban.org

Bản án 44/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 44/2025/HS-ST
Ngày: 20 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh S.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Huỳnh Ngọc Trứ.

2. Bà: Đặng Thị Tiềm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Đăng K (K nhỏ), sinh ngày 29/10/1999, tại tỉnh An Giang; Số căn cước công dân:089099012507; Hộ khẩu thường trú: khóm A, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang; Nơi cư trú hiện nay: khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Võ Văn T, sinh năm 1972 và bà: Dương Cẩm T, sinh năm 1969 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án 03 lần: Ngày 23/7/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, Bản án số 24/2019/HS-ST. Ngày 19/11/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 24/2019/HS-ST nêu trên, buộc Võ Đăng K phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 03 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự buộc K bồi thường cho bị hại số tiền 4.800.000 đồng (Bản án số 52/2019/HS-ST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2020 nhưng chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí của Bản án số 24/2019/HS-ST nêu trên. Ngày 21/9/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phúc thẩm, tuyên y án sơ thẩm số 50/2023/HS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt K 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, trong đó xác định bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (Bản án số 163/HS-PT). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2023, chưa xóa án tích. Về nhân thân: Từ nhỏ đi học lớn lên sống cùng gia đình tại Khóm A, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang, học đến lớp 07 thì nghỉ học phụ giúp gia đình. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 26/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Cai Lậy – Trại tạm giam Công an tỉnh Tiền Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Võ Thành Đ, sinh năm 2006; (vắng mặt)

- Nơi cư trú: khóm A, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang.

2/ Anh Hồ Quốc S, sinh năm 2000; (vắng mặt)

- Nơi cư trú: Ấp X, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Theo lời khai của Võ Đăng K, vào khoảng 12 giờ ngày 17/10/2024, K đi xe honda khách từ tỉnh Bình Dương về bến xe An Sương thuộc Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi ra bến xe An Sương, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên K hỏi người thanh niên chạy xe honda khách (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) có biết ai bán ma túy đá không, thì người này kêu K đưa tiền và đứng đợi để người này đi mua ma túy dùm K, K đồng ý rồi đưa cho người thanh niên này 400.000 đồng. Khoảng 10 phút sau, người thanh niên đem về đưa cho K 02 túi Zip bên trong có ma túy đá. Sau khi có được ma túy, K đi vào Công viên phường Tân Thới Hiệp thuộc Quận 12 (gần bến xe An Sương) lấy số ma túy vừa mua được sử dụng hết 01 gói, gói ma túy còn lại K bỏ vào trong gói thuốc lá hiệu JET, bỏ vào túi quần cất giấu.

Sau khi đã về quê, K mượn xe mô tô hiệu Exciter biển số 64D1-578.82 của Võ Thành K, sinh ngày 29/11/2006, thường trú Khóm A, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang (em ruột K) rồi điều khiển xe này chạy về thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang chơi. Đến khoảng 14 giờ ngày 22/10/2024, khi đến địa bàn thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang thì xe bị hỏng thắng, K đem xe đến tiệm sửa xe “Huỳnh Đ” tại Khu phố 2, Phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang sữa chữa thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện gói ma túy K để trong gói thuốc lá hiệu JET cất giấu trong túi quần trước bên trái nên tiến hành bắt giữ. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 túi zíp có kích thước (02 x 02)cm viền màu đỏ, bên trong có nhiều chất tinh thể rắn nghi là ma túy, được cho vào 01 bì thư bằng giấy có chữ “ CÔNG AN TIỀN GIANG - CÔNG AN THỊ XÃ CAI LẬY” được niêm phong theo quy định.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 màu trắng - đỏ biển số 64D1-578.82.

- 01 vỏ gói thuốc lá hiệu JET.

* Tại Bản kết luận giám định số 177/KL-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2590gam loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa bị cáo Võ Đăng K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, nên không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 28/CT-VKSTXCL ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Võ Đăng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiển sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Võ Đăng K đã thừa nhận hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Võ Đăng K về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Đăng K từ 05 năm đến 06 năm tù. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine trong 01(một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 118 ghi ngày 24 tháng 10 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường, Huỳnh Tấn Liễu, Nguyễn Quốc Phong, Nguyễn Trường An và hình dấu đỏ màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 (một) võ gói thuốc lá hiệu JET. Trả lại cho anh Võ Thành K 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 màu trắng biển số 64D1-578.82

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Thành K và anh Hồ Quốc S. Xét thấy, trong hồ sơ đã có lời khai của những người này nên việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo K. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Thành K và anh Hồ Quốc S.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Đăng K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào lúc 14 giờ 40 phút ngày 22/10/2024, tại khu phố 2, Phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Võ Đăng K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2590gam loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Xét lời thừa nhận tội của bị cáo K là phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản Kết luận giám định số 177/KL-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu; bị cáo K phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.

Xét về ý thức chủ quan của bị cáo nhận thức được rằng, ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện, làm mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, nó là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, làm suy đồi giá trị đạo đức truyền thống, làm tha hóa lối sống thế hệ thanh thiếu niên, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội, nó còn là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra tội phạm. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo K với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo K thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; về trình độ học vấn 7/12 nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với bị cáo nhưng cũng phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo K nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine trong 01(một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 118 ghi ngày 24 tháng 10 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường, Huỳnh Tấn Liễu, Nguyễn Quốc Phong, Nguyễn Trường An và hình dấu đỏ màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 (một) võ gói thuốc lá hiệu JET. Đối với ma túy loại Methamphetamine, là mặt hàng nhà nước quản lý độc quyền cấm cá nhân tàng trữ, vận chuyển, mua bán trên thị trường. Nhưng bị cáo K đã có hành vi tàng trữ trái phép và hiện không có giá trị, 01 (một) võ gói thuốc lá hiệu JET hiện không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 màu trắng biển số 64D1-578.82. Xét đây là tài sản của anh Võ Thành K, không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho anh Võ Thành K sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Võ Đăng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Võ Đăng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Võ Đăng K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo K bị bắt tạm giữ là ngày 22/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine trong 01(một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 118 ghi ngày 24 tháng 10 năm 2024; có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường, Huỳnh Tấn Liễu, Nguyễn Quốc Phong, Nguyễn Trường An và hình dấu đỏ màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 (một) võ gói thuốc lá hiệu JET.

- Trả lại cho anh Võ Thành K 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 màu trắng biển số 64D1-578.82 sau khi án có hiệu lực pháp luật.

(Vật chứng trên được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy lập ngày 08/4/2025)

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí .

Bị cáo Võ Đăng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ