- Tranh chấp gì? án hình sự — "NVC phạm tội “Mua bán trái phép chất ma Ty”. - không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NVC phạm tội “Mua bán trái phép chất ma Ty”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày: 29/7/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông NHP
2. Bà NTNL
Thư ký phiên tòa: Bà NTAM - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông PVH - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/HS- ST ngày 10/7/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST - HS ngày 14/7/2025 đối với:
Bị cáo: NVC - Sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT: Xóm 10, xã XG, huyện XT, tỉnh Nam Định (Nay là xã XG, tỉnh Ninh Bình); Chỗ ở: Số 6 ngách 113 ngõ 192 LTT, phường ĐC, quận HM, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông NNN (sinh năm 1975) và bà: Nguyễn Thị Loan (sinh năm 1978); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là LTTC (sinh năm 2003); Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/3/2025, bị tạm giữ từ ngày 01/4/2025; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 31/3/2025, tại khu vực đầu ngõ 1194 đường L, phường LTTC, quận ĐĐ, Hà Nội, tổ công tác của Công an phường LH đang làm nhiệm vụ thì phát hiện NVC đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong Ti quần bên phải phía trước C đang mặc có 03 Ti nilong trắng mỗi Ti kích thước khoảng 03x3cm bên trong chứa thảo mộc. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn tạm giữ của C 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đen, đã qua sử dụng, bị nứt rạn mặt phía sau điện thoại.
Tại bản Kết luận giám định số 2072/KL-KTHS ngày 10/4/2025 của phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “- Thảo mộc khô bên trong 03 Ti ni lông đều là Cần sa, tổng khối lượng 2,664 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, NVC khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 21 giờ 00 ngày 30/3/2025, C được bạn xã hội tên T sử dụng tài khoản Facebook “PTT” liên hệ hỏi mua 500.000 đồng ma tuý Cần sa, C đồng ý và yêu cầu T chuyển khoản. T sử dụng tài khoản số 19037459116011 mở tại ngân hàng Techcombank mang tên TVL chuyển khoản 500.000 đồng đến tài khoản số 4800953176 mở tại ngân hàng BIDV mang tên NVC. Do bận công việc nên C không đi mua ma tuý Cần sa về giao cho T được nên hẹn giao sau.
Khoảng 17 giờ ngày 31/3/2025, T sử dụng số 0961885646 gọi điện cho C để lấy ma tuý Cần sa. C đồng ý và hẹn 20 giờ cùng ngày sẽ giao ma Ty Cần sa cho T tại đầu ngõ 1194 Đường L, phường LTTC, quận ĐĐ, Hà Nội. Sau đó, C đi xe ôm đến phố TH gặp một nam thanh niên không quen biết và mua 03 Ti ma Ty cần sa với giá 450.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Cần sa, C cất vào trong Ti quần bên phải phía trước rồi đi đến đầu ngõ 1194 đường L để giao cho T. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi C đang đứng đợi T thì bị tổ công tác của Công an phường LH kiểm tra, thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Đối với đối tượng bán ma Ty cho C, tại Cơ quan điều tra, C khai là một người nam giới, C không biết tên, tuổi, địa chỉ nơi ở của người này. Do không xác định được nhân thân đối tượng bán ma Ty cho C nên cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được.
Đối với đối tượng mua ma tuý của C. Tại Cơ quan điều tra, C không biết tên tuổi, địa chỉ, chỉ của người này, chỉ biết người này sử dụng tài khoản Facebook “PTT”, số điện thoại 0961885646 và tài khoản ngân số 19037459116011 mở tại ngân hàng Techcombank.
+ Qua xác minh tại Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch không xác định được người đang sử dụng tài khoản Facebook “PTT”.
+ Qua xác minh tại Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) xác định chủ đăng ký là bà NTV (sinh năm 1966; Trú tại thôn DLN, xã TL, huyện VB, tỉnh Nam Định). Tại Cơ quan điều tra, bà V khai không đăng ký sử dụng số điện thoại 0961885646, không biết ai sử dụng số điện thoại này. Bà V không quen biết đối với NVC.
+ Qua xác minh tại ngân hàng Teckcombank xác định chủ đăng ký tài khoản số 19037459116011 là anh TVL (sinh năm 1990, trú tại thôn TM, xã TT, huyện LG, Bắc Giang). Tại Cơ quan điều tra Anh L khai nhận có đăng ký sử dụng số tài khoản số 19037459116011 tại ngân hàng Techcombank để phục vụ công việc kinh doanh. Tối ngày 30/3/3025, khi anh L đang ở khu vực phố LH thì có một nam thanh niên đến nhờ chuyển hộ số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của bạn anh ta. Anh L đồng ý và anh ta đọc số tài khoản đểchuyển tiền, sau khichuyển tiền, người này đưa tiền mặt cho anh L rồi bỏ đi. Anh L không biết nam thanh niên nhờchuyển tiền là ai, không rõ tên tuổi địa chỉ, không có số điện thoại, không biết mục đích nam thanh niên nhờchuyển tiền, do thời gian đã lâu, anh L không nhớ được vị trí đã chuyển hộ tiền. Do không xác định được nhân thân đối tượng mua ma Ty của C nên Cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được.
Bản cáo trạng số 06/CT - VKSTT ngày 08/7/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo NVC về tội “Mua bán trái phép chất ma Ty” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo NVC thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm và làm lại cuộc đời.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 Hà Nội giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma Ty”;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo truy nộp số tiền thu lời hưởng lợi bất chính 50.000 đồng
- Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy số ma Ty còn lại sau giám định; Tịch thu phát mại 01 điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, bị nút rạn mặt sau điện thoại (đã qua sử dụng).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, lời khai người làm chứng, Kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 31/3/2025, tại khu vực đầu ngõ 1194 đường L, phường LTTC, quận ĐĐ, Hà Nội, tổ công tác Công an phường LH phát hiện bắt quả tang NVC có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý 2,664 gam ma tuý Cần sa với mục đích để bán kiếm lời. Đối chiếu quy định pháp luật, NVC phạm tội "Mua bán trái phép chất ma Ty". Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma Ty. Ma Ty là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Với bị cáo cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm Cng.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên toà bị cáo khai bị cáo được hưởng lợi 50.000 đồng từ việc mua bán ma tuý nên cần buộc bị cáo truy nộp sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Số ma Ty cần sa thu giữ của bị cáo có trọng lượng còn lại sau giám định là chất độc hại, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu trắng bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma tuý nên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo NVC phạm tội “Mua bán trái phép chất ma Ty”.
Áp dụng: - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử phạt: Bị cáo NVC 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/4/2025.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo C.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao niêm phong dán kín có chữ ký của NVC, người chứng kiến NKH, giám định viên TNC, cán bộ CAP LH, cùng hình dấu của Công an phường.
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu 11 màu đen đã qua sử dụng, bị nút rạn mặt phía sau điện thoại.
(Tình trạng như Quyết định chuyển vật chứng số 04 ngày 08/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Hà Nội, Khi nào cơ quan Thi hành án dân sự khu vực ổn định việc sát nhập các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp giao nhận xử lý vật chứng trên theo quy định của pháp luật)
Buộc bị cáo NVC truy nộp số tiền thu lợi bất chính 50.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo NVC phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo NVC có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Nội; - Công an TP Hà Nội; - Phòng thi hành án hình sự khu vực 2 - Hà Nội; - Bị cáo, Hồ sơ; Lưu VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Huyền |