- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H, Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44 /2025/HS-ST Ngày 16 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thái và ông Cà Văn Đại.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn H, sinh 29/8/1982; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Đảng phái: không; con ông Lò Văn Th, sinh 1949 và bà Cầm Thị È, sinh 1952; bị cáo sống chung như vợ chồng với Lò Thị H và có 01 con sinh 2020; tiền án: ngày 28/3/2023 bị Toà án nhân dân huyện M xử phạt 19 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; tiền sự: không Nhân thân: ngày 27/6/2001 bị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 16 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”, đã được xoá án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 23/12/2024, tổ công tác Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã M thực hiện tuần tra, kiểm soát ma tuý tại bản Nà Tòng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, phát hiện tại nhà ở Lò Văn H có biểu hiện nghi vấn nên thực hiện kiểm tra. Khi gần đến nhà Hùng thấy một người đàn ông chạy khỏi nhà còn lại Lò Văn H đã lấy ra giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có 03 gói nilon màu xanh đều chứa cục bột màu trắng, H khai nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ thêm 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, không có sim và 01 căn cước công dân mang tê Lò Vă Hùng, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh Sơn La để điều tra, thực hiện khám xét khẩn cấp nơi ở nhưng không thu giữ gì thêm.
Lò Văn H khai về nguồn gốc ma tuý: ngày 17/12/2024, Hùng đến bản Phát Nam, xã Chiềng Sung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La thì gặp một người đàn ông giới thiệu tên là Súa (không biết họ, đệm, tuổi) hỏi và mua được 01 gói ma tuý với số tiền 2.000.000VNĐ, cất giữ mục đích để sử dụng; người đàn ông chạy khỏi nhà H cũng không biết họ tên, địa chỉ đến hỏi mua trâu, bò; căn cước công dân và điện thoại di động là của Hùng, không sử dụng vào việc vi phạm.
Ngày 23/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn H, như sau:
Cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ nhất có khối lượng là 0,18 gam, lấy 0,08 gam làm mẫu giám định ký hiệu H1, còn lại 0,10 gam ký hiệu C1;
Cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ hai có khối lượng là 0,47 gam, lấy 0,30 gam làm mẫu giám định ký hiệu H2, còn lại 0,17 gam ký hiệu C2;
Cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ ba có khối lượng là 0,18 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu H3, còn lại 0,13 gam ký hiệu C3 và 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.
Ngày 27/12/2024 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 133/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu ký hiệu H1, H2, H3 gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là H1= 0,08 gam, H2= 0,30 gam, H3 = 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,83 gam; loại Heroine”.
Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho H xác định tại bản Phát Nam, xã Chiềng Sung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La có người tên Súa, đã tổ chức nhận dạng qua hình ảnh nhưng H không nhận dạng được người tên Súa nên không có căn cứ mở rộng; kiểm tra nội dung lưu trữ trong điệu thoại nhưng không có nội dung, hình ảnh gì.
Xác định vụ án thuộc thẩm quyền Cơ quan CSĐT Công an huyện M nên ngày 16/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã đề nghị chuyển vụ án hình sự cùng vật chứng kèm theo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền; ngày 16/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ra Quyết định số 04/QĐ-VKS-P1, Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-ML ngày 26/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Lò Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đó là do nghiện ma túy nên đã mua cất giữ, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy: số Heroine còn lại, 04 mảnh nilon. Trả lại Lò Văn H 01 điện thoại di động và 01 căn cước công dân. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo tự chữa, tranh luận: nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về chứng cứ xác đinh hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 23/12/2024, bị cáo Lò Văn H bị Tổ công tác Công an tỉnh Sơn La phối hợp cùng Công an xã M làm nhiệm vụ phát hiện Hùng cất giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong có 03 gói nilon màu xanh đều chứa cục bột màu trắng, H khai nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 133/KL-KTHS ngày 27/12/2024, kết luận: “Mẫu ký hiệu H1, H2, H3 gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là H1= 0,08 gam, H2= 0,30 gam, H3 = 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,83 gam; loại Heroine”. Như vậy, Lò Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép chất ma tuý là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo được tuyên truyền, cải tạo giáo dục rèn luyện bản thân, được tái hoà nhập cộng đồng nhưng không thấy đó làm bài học để tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện mà ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vì sử dụng ma túy bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép chất ma tuý có tổng khối lượng 0,83 gam là nguy hiểm cho xã hội; với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động do sử dụng ma túy và kinh tế của gia đình bị cáo mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư: Ngày 28/3/2023 bị Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La, xử phạt 19 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 26/3/2024 về địa phương nhưng đến ngày 23/12/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa được xoá án tích và theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự thì Hùng đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư, nhân thân: Bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo luôn thể hiện sự cắn rứt lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu có tiền án, chính quyền địa phương xác định bị cáo chưa chấp hành tốt quy định của địa phương.
Về hình phạt: Từ những phân tích và nhận định trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của bị cáo nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,43 gam Heroine không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.
Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,10 gam Heroine ký hiệu C1; 0,17 gam Heroine ký hiệu C2 và 0,13 gam Heroine ký hiệu C3 thu giữ của Lò Văn H còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh là vật dụng bị cáo sử dụng cất giữ trái phép chất ma túy, vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 căn cước công dân mang tên Lò Văn H và 01 điện thoại di động là đồ vật, tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số nhưng không sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không có căn cứ miễn, giảm nộp tiền án phí. Do đó, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 28 (Hai mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (23/12/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 0,10 gam Heroine ký hiệu C1; 0,17 gam Heroine ký hiệu C2 và 0,13 gam Heroine ký hiệu C3; 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh của Lò Văn H.
Trả lại: 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO cho Lò Văn H (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lò Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/4/2025).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện M; - CA Tỉnh Sơn La (Phòng phận Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam); - Chi cục THADS huyện M; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hoà |