- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hoàng Đ260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 11 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG ––––––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2025/HS-PT Ngày 08 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Đàm
Các thẩm phán: Bà Vương Thị Thu Hà; ông Nguyễn Mạnh Cường
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký viên Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà Xuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại Phòng xử án Hình sự (tầng 3) trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (cơ sở 2), xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 51/2025/TLPT-HS, ngày 04/8/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H; do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST, ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang.
Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Văn H, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1975, tại xã TT, huyện GL, tỉnh Hải Dương (cũ), nay là xã Gia Phúc, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số nhà xx, ngõ 20, đường LH, tổ 2, phường NT, thành phố HG, tỉnh Hà Giang (cũ), nay là: Số nhà 12, ngõ 20, đường LH, tổ 2, phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hồng Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947; vợ: Đặng Thị Nh, sinh năm 1978; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/10/2023, bị cáo bị Chủ tịch UBND phường NT, thành phố HG, tỉnh Hà Giang ra Quyết định số: 116/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, với thời gian 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 13/4/2024 đã chấp hành xong quyết định, đến ngày phạm tội chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Nhân thân: Ngày 25/9/2017 bị Phòng Cảnh sát ma tuý Công an tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 04/12/2019 bị Công an thành phố HG, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (đều đã chấp hành xong, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
Ngày 16/01/2020 bị Toà án nhân dân thành phố HG, tỉnh Hà Giang xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HSST (đã được xóa án tích).
Hiện bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 07/4/2025 Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại COUNTY, biển kiểm soát 23B-003.79 (chủ xe là H Trọng Tài, trú tại tổ 9, phường Quang Trung, thành phố HG) đi từ bến xe khách Hà Giang đến huyện QB đi cùng xe có Sùng Chính M, sinh năm 1986; trú tại thôn Mã Hồng, xã TV, huyện QB (là phụ xe), Vàng Thị M1, sinh năm 1984, trú tại thôn Mã Hồng, xã TV, huyện QB (là vợ của M), ngoài ra trên xe có 05 hành khách (gồm 04 nam giới và 01 nữ giới, đều không rõ thông tin địa chỉ). Khoảng 5 giờ 15 phút, khi đi đến km 24 + 900 Quốc lộ 4C (Hà Giang đi QB) thuộc địa phận thôn Bắc Xum, xã Minh Tân, huyện Vị Xuyên thì H điều khiển xe sang bên trái đường, dừng đỗ sát mép đường trước cửa quán bán hàng của chị Đào Thị Thu H, sinh năm 1981, tạm trú tại thôn Bắc Xum, xã Minh Tân, huyện Vị Xuyên để hành khách trên xe xuống mua bánh mỳ và đồ uống. H tắt máy xuống xe đi vào trong quán uống nước. Lúc này Đặng Phương H1 (trú tại thôn Lùng Thàng, xã QT, huyện QB, tỉnh Hà Giang) điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 23L1-084.73 đang di chuyển theo hướng QB đi Hà Giang thì va chạm vào phần đầu xe ô tô khách do H điều khiển đang dừng đỗ. Hậu quả xe mô tô và H1 bị đổ chui vào gầm xe ô tô khách, H1 được H và mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang. Đến sáng ngày 08/4/2025 H1 được đưa đi Hà Nội cấp cứu, nhưng do thương tích nặng, đến 16 giờ 40 phút cùng ngày thì tử vong; xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định điểm va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 23B-003.79 và xe mô tô biển kiểm soát 23L1-084.73, cụ thể:
Hiện trường là đoạn đường cong, cua hướng Hà Giang - QB, phía bắc là hướng đi QB, phía Nam là hướng đi thành phố HG, phía Đông là bãi đất trống, phía Tây là nhà dân, hai bên đường thông thoáng, tầm quan sát tốt, bán kính 200m về hai phía điểm tai nạn không có biển báo hiệu, chỉ dẫn. Mặt đường dải nhựa áp phan, rộng 9,9m, đường có vạch sơn vàng đứt quãng, hai bên mép đường có vạch sơn liền màu trắng cùng với lề đường và cống thoát nước. Hiện trường phát hiện xe ô tô khách, BKS 23B-003.79 đỗ bên trái đường hướng Hà Giang - QB và xe mô tô BKS 23L1-084.73 được dựng bằng chân chống phụ ở phía trước đầu xe ô tô, chếch từ phải qua trái (hướng QB - Hà Giang). Hướng chuẩn là hướng QB - Hà Giang, lấy mép đường bên phải là lề chuẩn, cột điện số 30 làm điểm chuẩn.
Vị trí số 1: Xe mô tô BKS 23L1-084.73 đang dựng bằng chân chống phụ, hướng chếch chéo từ phải qua trái. Từ trục bánh trước đến lề chuẩn là 1,19m; Từ trục bánh sau đến lề chuẩn là 0,20m; Từ trục sau đến điểm chuẩn là 20,55m.
Vị trí số 2: Dấu vết các mảnh vỡ nghi là của xe mô tô và ô tô để lại trên hiện trường, kích thước (0,8 x 0,9)m. Từ tâm VT2 đến lề chuẩn là 1,85m; Từ tâm VT2 đến đến trục bánh trước xe mô tô là 1,20m.
Vị trí số 3: Chất dịch màu nâu đỏ nghi là máu, kích thước (2,30 x 0,80)m, từ tâm VT3 đến lề chuẩn là 2,8m, từ tâm VT3 đến tâm VT2 là 1,17m.
Vị trí số 4: Dấu vết dạng xương màu vàng nghi là răng người có kích thước 0,2cm. Từ tâm VT4 đến VT3 là 0,84m, từ VT4 đến lề chuẩn là 3,44m.
Vị trí số 5: Xe ô tô BKS 23B-003.79, trục bánh trước bên trái đến lề chuẩn là 0,03m. Từ trục bánh sau bên trái đến lề chuẩn là 0,03m, từ trục bánh sau bên trái đến lề chuẩn là 0,08m, từ trục bánh trước bên trái đến VT4 là 1,57m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe mô tô biển kiểm soát 23L1-084.73: Cụm bánh trước không có dấu vết tác động, chuyển động tốt, hệ thống càng và giảm sóc trước hai bên thẳng, cung trước chắn bùn bánh trước gãy vỡ đứt rời khỏi xe, phần bên phải nặng hơn phần bên trái, ốp nhựa đầu giảm sóc trước bên phải gãy vỡ đứt dời khỏi xe; ốp nhựa mặt nạ trước gẫy vỡ vụn đứt rời khỏi xe (một phần nhựa nhỏ còn gắn lại trên giá đỡ); toàn bộ cánh yếm phải bung bật khỏi vị trí ban đầu; cánh yếm trái gẫy vỡ lỏng lẻo, ốp nhựa của toàn bộ cụm pha trước, xi nhan hai bên gẫy vỡ đứt rời khỏi xe, mặt kính đồng hồ công tơ mét gẫy vỡ; gương phải, gương trái xô lệch khỏi vị trí ban đầu (mặt gương trái gẫy vỡ rời khỏi vị trí ban đầu). Kiểm tra chi tiết các bộ phận bên trong của vị trí vỏ nhựa gẫy vỡ nhận thấy trục cổ phốt cong gập hướng từ trước về sau, kiểm tra chi tiết mặt trước cạnh dưới của cổ phốt tiếp giáp với thanh nối ngang của 02 đầu giảm sóc trước thấy có rất nhiều mảnh vụn vật chất màu vàng nâu nhiều kích cỡ to nhỏ khác nhau, không đo chi tiết. Các phần còn lại không phát hiện các dấu vết liên quan đến va chạm.
Xe ô tô biển kiểm soát 23B-003.79: Toàn bộ vị trí đầu bên phải cản trước, cụm đèn pha, góc dưới phía trước đầu xe bị biến dạng cong gập từ trước ra sau, xiên chếch từ trên xuống dưới, diện tích móp méo (45 x 70)cm, hình dạng sập lún sâu tạo thành chữ “V” vị trí sập lún sâu nhất là 20cm, tại điểm sâu nhất này kiểm tra phát hiện 01 miếng nhựa màu đen kích thước (0,8 x 2,6)cm; không có đèn pha phải, tại vị trí của đèn pha phải có 01 đèn led dạng tròn, đèn bị cong gập, từ trước về sau sâu vào bên trong, phía trong vị trí biến dạng, sâu nhất trên cản trước có 01 ốp bằng nhựa đầu lọc khí bị gẫy, vỡ, méo, bẹp sập sâu vào trong. Điểm thấp nhất có hệ thống dấu vết biến dạng nêu trên cao cách mặt nền 43cm. Cách cạnh trên của vị trí đèn pha phải 5cm (lên phía trên) có dấu vết móp méo liền dưới chân gương phải kích thước (40 x 45)cm, chiều hướng từ trước về sau lún sâu 04cm. Đầu bên trái cản trước tại vị trí liền dưới đèn pha bên trái có dấu vết móp méo nhẹ, khoảng cách gần nhất với dấu vết nêu trên 1cm (dấu vết này tách biệt không liên quan đến va chạm gây tai nạn).
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, ma tuý:
Hồi 8 giờ 38 phút, ngày 07/4/2025, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang, tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn H. Kết quả đo được là 0,00 mg/l. Hồi 09 giờ 41 phút, ngày 07/4/2025 tại Phiếu trả kết quả xét nghiệm sinh hoá của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang đối với Nguyễn Văn H, kết quả dương tính (+) với Morphin. Kết luận tại thời điểm xét nghiệm có sử dụng ma túy Morphin, Heroin.
Hồi 07 giờ 56 phút, ngày 07/4/2025, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang, tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Đặng Phương H1. Kết quả đo được là 0,00 mg/l. Hồi 08 giờ 51 phút, ngày 07/4/2025 tại Phiếu trả kết quả xét nghiệm sinh hoá của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang đối với Đặng Phương H1, kết quả dương tính (+) với Morphin (Do trong quá trình cấp cứu bác sĩ tiêm thuốc giảm đau cho H1).
Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 151/KLGĐTT-KTHS ngày 04/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận: Nguyên nhân chết của Đặng Phương H1 “Suy hô hấp do dịch máu bít tắc đường thở, trên người bị chấn thương hàm mặt và đa chấn thương”. Cơ chế hình thành thương tích trên thân thể Đặng Phương H1 “Các tổn thương trên thân thể Đặng Phương H1 do tác động tương hỗ với vật tầy gây ra”.
Tại Kết luận giám định ADN số 251/25/KLGĐADN-PYQG ngày 24/4/2025 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận: Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người mẫu dịch màu nâu đỏ nghi máu thu tại hiện trường ở vị trí số 3: Dương tính; Dữ liệu ADN thu từ mẫu dịch màu nâu đỏ nghi máu thu tại hiện trường ở vị trí số 3 trùng khớp với ADN của Đặng Phương H1 trên tất cả các locus STR đã phân tích.
Tại kết luận định giá tài sản ngày 28/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hà Giang, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại COUNTY, màu sơn ghi - vàng, biển kiểm soát 23B-003.79 là 11.690.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave alpha, màu sơn vàng - đen mang biển kiểm soát 23L1-084.73 là 2.675.000 đồng.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và điều tra xác minh, xác định: Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông là do Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 23B-003.79 dừng đỗ xe bên trái đường theo hướng đi (là phần đường của các phương tiện đi ngược chiều), dẫn đến khi Đặng H1 Phương điều khiển xe mô tô BKS 23L1-084.73 đang đi ở phần đường bên phải (hướng QB - Hà Giang), không kịp xử lý đã va chạm vào phần đầu xe ô tô đang dừng đỗ. Hành vi của H đã vi phạm khoản 6 Điều 18 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024“Trên đường phố, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe sát theo lề đường, vỉa hè phía bên phải theo chiều đi của mình”, hành vi trên của H đã gây hậu quả làm Đặng Phương H1 tử vong và gây thiệt hại về tài sản xe mô tô của H1 với giá trị thiệt hại là 2.675.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Từ nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST, ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang đã xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 125, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 20 (hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/6/2025. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ của người được hưởng án treo, án phí và quyền kháng cáo.
Trong hạn luật định, ngày 14 tháng 7 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang kháng nghị với nội dung: Bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân không tốt, chưa được xoá tiền sự nên căn cứ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt tù, không cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên nội dung kháng nghị. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang có quan điểm: Việc Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo mức hình phạt 20 tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; mức hình phạt như vậy là thoả đáng. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đang có tiền sự nhưng Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo là không đúng với các quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST, ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang về phần hình phạt, để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, không cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì về nội dung kháng nghị. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/7/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang có quyết định kháng nghị trong hạn luật định, theo quy định tại Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang là hợp pháp, được Tòa án chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh: Việc Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo, bị hại không có kháng cáo; kháng nghị của Viện kiểm sát không đề cập về tội danh nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về hình phạt: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Do vậy, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo mức hình phạt 20 tháng tù là thoả đáng, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Hội đồng xét xử thấy: Trong các năm 2017 và 2019, bị cáo Nguyễn Văn H đã có 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính cùng về về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; năm 2020, bị cáo bị Toà án xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (các quyết định xử phạt vi phạm hành chính này bị cáo đều đã chấp hành xong, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; đã được xoá án tích). Ngày 13/10/2023, Chủ tịch UBND phường NT, thành phố HG, tỉnh Hà Giang ra Quyết định số 116/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, với thời gian 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 14/4/2024, UBND phường NT, thành phố HG ra Quyết định số: 51/QĐ-UBND về việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 11 Nghị định số: 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì tính đến ngày bị cáo phạm tội (ngày 07/4/2025), bị cáo chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP thì bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang là có cơ sở.
Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận Kháng nghị số: 03/QĐ-VKSTQ, ngày 14/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, sửa bản án sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST, ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang về phần hình phạt, để buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt tù, không cho bị cáo hưởng án treo.
Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do nên cấp sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nhưng phần nhận định của bản án không nêu rõ lý do, phần quyết định của bản án cũng không đề cập nội dung này, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ khắc phục thiếu sót này.
Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST, ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Kháng nghị số 03/QĐ-VKSTQ ngày 14/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, sửa Bản án sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST, ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang như sau:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
3. Các nội dung khác tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST, ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - PC 10, PV 06 Công an tỉnh Tuyên Quang; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang; - TAND khu vực 4 - Tuyên Quang; - VKSND khu vực 4 - Tuyên Quang; - Phòng THADS khu vực 4 - Tuyên Quang; - Bị cáo; - Tổ HCTP; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Đàm |