vanban.org

Bản án 44/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 25/07/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khoản 2 Điều 21, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hồ Phúc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. TAND Cấp cao tại Hà Nội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Phúc Dương phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khoản 2 Điều 21, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hồ Phúc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-PT
Ngày: 25-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Lệ Thu

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân

Ông Hoàng Ngọc Tùng

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLPT-HS ngày 08/4/2025 đối với bị cáo Hồ Phúc D do có kháng cáo của bị cáo Hồ Phúc D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo: Hồ Phúc D, tên gọi khác: không; sinh ngày 17 tháng 9 năm 1992, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã T, tỉnh Hà Tĩnh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Phúc M, sinh năm 1960 và Võ Thị Đ, sinh năm: 1960; Vợ: Trần Thị T, sinh năm: 1997; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 09/7/2018, Hồ Phúc D bị Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự (Bản án số 13/2018/HS-ST). Ngày 12/11/2018, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm, xử y án sơ thẩm (bản án số 142/2018/HSPT). Hồ Phúc D thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ thi hành án dân sự, án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm vào ngày 19/12/2018 và chấp hành xong án phạt tù vào ngày 20/8/2020.

- Ngày 14/3/2018, Hồ Phúc D bị Công an huyện C ra quyết định số 41 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 2.000.000 đồng. Tuy nhiên tại báo cáo đề xuất xử lý hành chính ngày 12/01/2018 thể hiện: Công an huyện C thống nhất xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ; tại đơn xin nộp phạt ngày 14/3/2018 của Hồ Phúc D thể hiện: Hồ Phúc D được thông báo bị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ nên ngày 15/3/2018, bị cáo đã nộp phạt 1.500.000đ.

- Ngày 28/10/2021, Hồ Phúc D bị Công an huyện L ra quyết định số 148 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000 đồng (đã nộp tiền phạt ngày 01/11/2021).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện trú tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 23/10/2024 đến nay; (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/9/2024, Hồ Phúc D (không có giấy phép lái xe ôtô) một mình điều khiển xe ôtô nhãn hiệu KIA Morning, màu trắng, mang biển kiểm soát 38A – 533.50 (đăng ký xe mang tên vợ là Trần Thị T) đi từ nhà tại thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đến thị trấn N, huyện C mua phụ tùng máy cắt sắt. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, D lưu thông trên đoạn đường B đi ra Quốc lộ A, khi đi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường B và đường Đ thuộc tổ dân phố G, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, tại đây có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường đồng cấp (W205a). Hồ Phúc D không chú ý quan sát các phương tiện đi đến từ các hướng xung quanh khu vực ngã tư nên không phát hiện được phía trước, bên trái trên đường Đ có ông Nguyễn Huy T1 sinh năm 1936 đang điều khiển xe đạp, màu xanh, nhãn hiệu ASAMA lưu thông theo hướng đường Đ đi sông N chuẩn bị vào ngã tư nên vẫn tiếp tục điều khiển xe đi qua ngã tư. Khi đó, xe ô tô BKS 38A – 533.50 do D điều khiển không giảm tốc độ, không đi đúng phần đường, làn đường quy định (một phần xe ôtô đi lấn sang làn đường của xe chạy ngược chiều) và đã đâm thẳng vào xe đạp do ông Nguyễn Huy T1 điều khiển. Phần đường, làn đường xảy ra va chạm giữa hai phương tiện nằm tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Đ và đường B. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện là góc bên trái ba đơ xóc phía trước, ốp đèn gầm phía trước bên trái xe ô tô BKS 38A – 533.50 với phần đầu phía trước hộp xích, bàn đạp phía bên phải xe đạp. Sau khi xảy ra tai nạn, ông Nguyễn Huy T1 văng lên phía trước đầu xe ô tô, đầu đập vào phần bên trái kính chắn gió phía trước và văng ngã ra cùng xe đạp, nằm trên đường B, thuộc làn đường ngược chiều di chuyển của ô tô, còn xe ô tô BKS 38A – 533.50 phanh dừng lại, một phần xe lấn sang làn đường ngược chiều. D xuống xe thấy tình trạng ông Nguyễn Huy T1 bị thương, chảy máu, nằm bất động nên đã bồng ông T1 lên xe ô tô BKS 38A – 533.50 và chở đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện C. Tuy nhiên, do thương tích nặng, ông Nguyễn Huy T1 tử vong, hai phương tiện liên quan đến vụ tai nạn bị hư hỏng.

* Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 21/9/2024 tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường B và đường Đ thuộc TDP7, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông phản ánh:

- Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn: khu vực ngã tư giao nhau giữa đường B và đường Đ, thuộc TDP7, thị trấn N, huyện C, Hà Tĩnh. Đường B và đường Đ đều được rải thảm nhựa, thẳng, phẳng; trong đó đường B có vạch kẻ đứt đoạn bằng sơn màu vàng, chia đường làm hai chiều đi riêng biệt. Đường B rộng 5,75 mét, chiều đường theo chiều đi từ TDP 8, thị trấn N đến Quốc lộ A có một làn đường rộng 2,75 mét, làn đường còn lại rộng 3 mét; đường Đ không có vạch kẻ phân làn đường, chiều rộng đường là 5,4 mét cho các phương tiện tham gia giao thông. Khu vực ngã tư trên đường B theo chiều từ xã T đi đường Q và chiều ngược lại đều có gắn biển cảnh bảo nguy hiểm giao nhau với đường đồng cấp (W205a); trên đường Đ theo chiều đường từ TDP G, thị trấn N đi hướng sông N và chiều ngược lại đều có gắn biển cảnh bảo nguy hiểm giao nhau với đường đồng cấp (W205a).

- Xác định điểm mốc và mép đường nơi tai nạn làm chuẩn: Hội đồng khám nghiệm hiện trường thống nhất lấy cột điện cạnh ngã tư nằm ở bên phải đường B theo chiều đi từ Quốc lộ A đến xã T, cạnh cổng nhà ông Hồ Xuân C, TDP G, thị trấn N, huyện C làm điểm mốc.

Lấy mép đường bên phải của đường B theo chiều đi từ Quốc lộ A đến xã T làm mép chuẩn để ghi nhận dấu vết, phương tiện tại hiện trường.

- Mô tả theo số thứ tự nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Mũ cối: 01 chiếc mũ cối màu xanh lá cây, trên có dây màu nâu và ngôi sao; nằm trên phần đường thuộc đường B theo chiều đi từ xã T đến Quốc lộ A, kích thước (0,30 x 0,35) mét. Vị trí tâm dấu vết cách mép đường làm chuẩn là 4,1 mét, cách cột mốc làm chuẩn theo chiều xã T đến Quốc lộ A là 1,2 mét, theo chiều sông N đi TDP G, thị trấn N là 5,8 mét. (Ký hiệu 1).

(2) Dép phải: 01 chiếc dép phải, màu đen, bằng cao su nằm trên làn đường bên phải của đường B, theo chiều Quốc lộ A đến xã T, chiếc dép nằm ngữa, mũi dép hướng về phía xã T, đuôi dép hướng về quốc lộ A; kích thước (0,13 x 0,27) mét. Vị trí tâm dép cách mép đường làm chuẩn là 1,75 mét, cách tâm dấu vết (1) 0,1 mét theo chiều xã T đi quốc lộ A, cách tâm dấu vết 1 theo chiều sông N đi TDP G, thị trấn N là 2,35 mét. (Ký hiệu 2).

(3) Vết trượt lốp (phanh): 01 vết trượt lốp (phanh) trên mặt đường B, nằm trên làn đường bên phải theo chiều đi từ xã T đi Quốc lộ A; kích thước (0,15 x 2,2) mét. Tâm điểm đầu vết trượt lốp cách mép đường làm chuẩn là 3,5 mét, cách tâm dấu vết (2) theo chiều quốc lộ A đi xã T là 01 mét, theo chiều sông N đi TDP 7 là 1,65 mét; tâm điểm cuối vết trượt lốp cách mép đường làm chuẩn 3,6 mét. Ký hiệu 3.

(4) Dép trái: 01 chiếc dép trái, màu đen, bằng cao su nằm trên làn đường bên phải của đường B, theo chiều Quốc lộ A đến xã T, chiếc dép nằm lật úp, mũi dép hướng về phía xã T, đuôi hướng về QL 1A; kích thước (0,13 x 0,25) mét. Vị trí tâm dép cách mép đường làm chuẩn 2,2 mét, cách điểm đầu vết (3) theo chiều quốc lộ A đi xã T 0,6 mét; theo chiều TDP 7 đi sông N là 1,1 mét. Ký hiệu 4.

(5) Vết trượt lốp (phanh): Có 01 vết trượt lốp (phanh) liên tục trên mặt đường B, nằm trên phần đường bên trái theo chiều đi từ xã T đi quốc lộ A, kích thước (0,15 x 1,1) mét. Tâm điểm đầu vết trượt lốp cách mép đường làm chuẩn 2,1 mét, cách tâm vết (4) là 0,9 mét; tâm điểm cuối vết cách mép chuẩn 2,2 mét. Ký hiệu 5.

(6) Vùng tạp chất màu đỏ, nghi là máu: 01 vùng tạp chất màu đỏ, nghi là máu nằm trên phần đường bên phải của đường B theo chiều đi từ Quốc lộ A đến xã T, kích thước (0,9 x 1,1) mét. T2 dấu vết cách mép đường làm chuẩn là 1,1 mét, cách điểm đầu dấu vết (5) là 2,4 mét. Ký hiệu 6.

(7) Xe đạp nhãn hiệu ASAMA: 01 (một) xe đạp màu xanh lá cây, nhãn hiệu ASAMA, ngã nghiêng bên phải, nằm trên phần đường bên phải của đường B theo chiều Quốc lộ A đến xã T. Đầu xe hướng về Quốc lộ A, đuôi xe hướng về phía xã T. T2 trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn là 0,1 m. T2 trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 0,45 mét, tâm trục bánh sau xe đạp cách tâm dấu vết (6) là 1,1mét.

(8) Vùng mảnh vỡ: Có 01 vùng mảnh vỡ gồm nhiều mảnh vỡ xe ô tô, màu trắng nằm rải rác trên phần đường thuộc đường B theo chiều Quốc lộ A đến xã T; kích thước vùng mảnh vỡ (1,3 x 2,2) mét. Vị trí tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường làm chuẩn là 2,2 mét, tâm vùng mảnh vỡ cách tâm dấu vết (6) là 1.7 mét. Ký hiệu 8. (Bút lục 07-09)

* Biên bản khám nghiệm phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông lập ngày 24/9/2024 đối với xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, màu trắng, mang BKS 38A – 533.50 phản ánh: ⁃ Phần bên trái biển kiểm soát phía trước có dấu vết nứt vỡ trượt xước, kích thước (15x5,5) cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 45 cm, cách mép thành đầu xe bên trái 66 cm. ⁃ Ba đơ xốc phía trước (vị trí phía dưới bên trái biển kiểm soát) có dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen, kích thước (5x3) cm, chiều hướng dấu vết từ trên xuống dưới, tâm dấu vết cao cách mặt đất 23 cm, cách mép thành xe bên trái 55 cm. ⁃ Góc bên trái ba đơ xốc phía trước có dấu vết trượt xước mất sơn, bám dính chất màu xanh (hình vòng cung) kích thước (21x2) cm, chiều hướng dấu vết từ phải sang trái, từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 30 cm, cách mép thành xe bên trái 29,5 cm. ⁃ Ốp bảo vệ đèn gầm phía trước bên trái có dấu vết trượt xước nứt vỡ kích thước (14x2,5) cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 46 cm. ⁃ Góc bên trái ba đơ xóc phía trước, vị trí ngay sát bên trái đèn gầm có dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen kích thước (4,5 x 1,5) cm, chiều hướng dấu vết từ trên xuống dưới, tâm Cao cách mặt đất 42 cm. ⁃ Đèn chiều sáng phía trước có dấu vết nứt vỡ, kích thước (37x19) cm, tâm cao cách mặt đất 80 cm. ⁃ Góc phía trên bên trái của ba đơ xóc phía trước có dấu vết trượt xước (hình các đường thẳng chạy song song), kích thước (9,5 x 5) cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 79 cm, cách mép thành xe bên trái 38 cm. ⁃ Phần bên trái kính chắn gió phía trước có dấu vết nứt vỡ, kích thước (77x60) cm, tại vị trí nứt vỡ lớn nhất có dấu vết bám dính lông tóc, tâm dấu vết cao cách mặt đất 113,5 cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, đèn, hệ thống hãm, đèn còn lại, còi, lốp, gương, gạt nước hoạt động bình thường và xe khởi động di chuyển bình thường. (Bút lục 53-60)

* Biên bản khám nghiệm phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông lập ngày 24/9/2024 đối với xe đạp màu xanh, khung xe in dòng chữ ASAMA phản ánh: ⁃ Mặt bên phải giỏ xe có dấu vết mài trượt kích thước (25x24) cm, chiều hướng dấu vết từ trên xuống dưới, tâm dấu vết cao cách mặt đất 79 cm. ⁃ Mặt ngoài ốp cao su tay lái phía bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (6 x 1,7) cm, chiều hướng dấu vết từ trái sang phải, tâm dấu vết cao cách mặt đất 97 cm. ⁃ Mặt ngoài phần đầu phía trước của ốp bảo vệ hộp xích có dấu vết trượt xước mất sơn, bám dính chất màu trắng, kích thước (18x2) cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 27,5 cm. ⁃ Mặt ngoài bàn đạp phía bên phải có dấu vết trượt xước bám dính chất màu trắng, kích thước (6,5 x 2,5) cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm còn hoạt động. (Bút lục 48-52)

Kết luận giám định dấu vết cơ học số 1191 ngày 04/10/2024 của phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Xe ô tô mang BKS 38A – 53350 và xe đạp có va chạm với nhau: Góc bên trái ba đơ xóc phía trước, ốp đèn gầm phía trước bên trái xe ô tô mang BKS 38A – 53350 với phần đầu phía trước hộp xích, bàn đạp phía bên phải xe đạp là vị trí va chạm giữa hai phương tiện; Hai phương tiện va chạm theo chiều vuông góc với nhau (Bút lục 61-62).

* Biên bản khám nghiệm tử thi Nguyễn Huy T1, sinh năm 1936, trú tại TDP G, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh lập ngày 21/9/2024, tại TDP G, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh phản ánh:

- Ghi nhận các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng chẩm sau, cách sau đỉnh vành tai phải 12 cm, cách trên đường chân tóc gáy 06 cm có đám sưng nề bầm tụ máu, kích thước (10 x 8) cm, trên nền sưng nề có vết xây xát, bầm dập da kích thước (5 x 3) cm. Tai, mũi có nhiều máu chảy ra. Gãy cung sau xương sườn số 8, 9, 10 bên phải. Mặt sau khuỷu tay phải có đám sưng nề, bầm tụ máu kích thước (5 x 3) cm. Mu bàn tay phải có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước (8 x 5) cm, trên nền sưng nề có một số vết xây xát da nhỏ.

- Giải phẫu vùng đầu: Dưới da đầu vùng chẩm tụ máu nặng. Xương hộp sọ bị vỡ, máu tụ bên trong hộp sọ chảy ra ngoài. (Bút lục 35-41)

Kết luận giám định pháp y số 1164/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của phòng K Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Huy T1: Đa chấn thương (Bút lục 31-32).

* Việc thu giữ và xử lý các vật chứng, đồ vật có liên quan đến vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã thu giữ các đồ vật, tài sản: 01 (một) xe ô tô mang biển số 38A-533.50 nhãn hiệu KIA, số loại Morning, màu Trắng, số khung RNYTB51M5GC088515, số máy G4LAGP050797; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 38000981 của Công an huyện C cấp ngày 27/09/2023, đăng ký biển số 38A-533.50 mang tên Trần Thị T; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA5466581 của xe ô tô mang biển số 38A-533.50, cấp ngày 28/9/2023, có hiệu lực đến hết ngày 27/9/2025; 01 (một) Giấy chứng nhận Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số DK23/0354917 của xe ô tô biển số 38A-533.50 cấp ngày 28/09/2023; 01 (một) xe đạp màu xanh, trên khung xe có ghi chữ ASAMA; 03 (ba) thẻ nhớ camera, trên thẻ có ghi chữ MicroSD 1GB lưu trữ 03 đoạn video liên quan đến vụ tai nạn được trích xuất dữ liệu từ camera người dân.

Trong quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hưởng đến công tác điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại 02 chiếc xe nói trên và toàn bộ các giấy tờ liên quan đến phương tiện cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp của bị hại. Đối với 03 (ba) thẻ nhớ camera được lưu theo hồ sơ vụ án (Bút lục 154-160).

* Trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Hồ Phúc D đã tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000đ để lo mai táng phí, tổn thật vật chất và tinh thần, chi phí sửa chữa xe đạp và các chi phí có liên quan cho gia đình nạn nhân Nguyễn Huy T1. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại là ông Tô Đông Đ1 ghi nhận tình cảm của bị cáo và hoàn trả số tiền 50.000.000đ cho bị cáo.

Đối với các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông bị hư hỏng thì chủ sở hữu và đại diện hợp pháp gia đình nạn nhân đều từ chối giám định thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hồ Phúc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Phúc D 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định, ngày 27/02/2025 bị cáo Hồ Phúc D kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Phúc D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Hồ Phúc D, sửa một phần nội dung bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Phúc D 24 (hai mươi tư) tháng tù.

Bị cáo không có nội dung tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo trình bày rất ân hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về căn cứ pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại các phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

. Xét nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mà mình thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/9/2024, Hồ Phúc D không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, đã tự ý lấy xe ô tô BKS 38A – 533.50 của vợ là Trần Thị T để đi từ nhà tại thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để đến thị trấn N, huyện C. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường B và đường Đ thuộc tổ dân phố G, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh là nơi có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường đồng cấp (W205a), D đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, lấn sang làn đường của làn xe đi ngược chiều gây tai nạn với xe đạp do ông Nguyễn Huy T1, sinh năm 1936, trú tại tổ dân phố (TDP) 7, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển theo chiều hướng vuông góc. Hậu quả: ông Nguyễn Huy T1 tử vong, xe ôtô và xe đạp bị hư hỏng.

Bị cáo Hồ Phúc D là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ, không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi, trực tiếp gây ra tai nạn, hậu quả làm chết người với lỗi vô ý. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, quyền được tôn trọng, bảo vệ sức khỏe của con người. Do đó, việc Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố bị cáo Hồ Phúc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật là đảm bảo căn cứ.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Hồ Phúc D. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc , tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hà Tĩnh).

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Phúc D 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khoản 2 Điều 21, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hồ Phúc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ