- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Mùi P - Phùng Văn L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phùng Mùi P.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 6 - 2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Hữu San
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nông Thị Sinh
Ông Quan Văn Ngụ
- Thư ký phiên tòa: Bà Duy Minh Hà – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án thụ lý số 27/2025/TLST-HNGĐ, ngày 21/4/2025 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 09/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phùng Mùi P, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Anh Phùng Văn L, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
(Nguyên đơn chị Phùng Mùi P có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phùng Văn L vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai và Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Phùng Mùi P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phùng Văn L tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương từ năm 2016, đến ngày 20/01/2017 mới đến UBND xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống tại thôn K, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng chỉ hạnh phúc được một vài năm đầu, sau đó dần phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L thường xuyên đi uống rượu say, sau đó về nhà chửi bới, đánh đập, hành hạ chị. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải, thôn xóm can thiệp, bản thân chị vì thương các con nên cũng đã cố gắng chịu đựng nhưng anh L vẫn không chịu thay đổi, vẫn tiếp tục bạo hành chị cả về thể xác lẫn tinh thần. Do không thể chịu đựng được nữa nên chị đã bỏ về sống cùng bố mẹ đẻ tại huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang và sống ly thân với anh Phùng Văn L từ tháng 3/2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Phùng Văn L đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, nuôi dạy con cái trưởng thành được nữa. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Văn L, để giải phóng cho chị thoát khỏi cảnh bạo lực gia đình, đi tìm cuộc sống mới.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Phùng Văn L có 02 con chung là Phùng Tiến Đ, sinh ngày 30/11/2016 và Phùng Thị Thu H, sinh ngày 27/6/2020. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì các con vẫn sống cùng anh L và ông bà nội nên khi ly hôn chị nhất trí giao các cháu Phùng Tiến Đ và Phùng Thị Thu H cho anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống chị và anh Phùng Văn L sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh L là ông Phùng Dùng Th và bà Triệu Thị M nên chưa tạo lập được tài sản, đất đai gì chung; cũng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn anh Phùng Văn L không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và không có ý kiến gì đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Mùi P.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và ông Phùng Dùng Th là bố đẻ của bị đơn anh Phùng Văn L, nội dung thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương từ năm 2016, đến năm 2017 thì đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau ngày cưới vợ chồng chị P, anh L về sống cùng nhà với gia đình bố mẹ đẻ anh L là ông Phùng Dùng Th và bà Triệu Thị M. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng năm 2021 – 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mắng chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình và thôn xóm can thiệp, hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thể hóa giải mâu thuẫn nên chị P đã bỏ đi nơi khác và sống ly thân với anh L từ năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Anh L đã nhiều lần khuyên nhủ, động viên chị P quay về đoàn tụ để nuôi dạy con cái nhưng chị P không đồng ý, vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh L. Do đó, chính quyền địa phương và người thân thích của anh Phùng Văn L xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L đã đến mức độ trầm trọng, không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùng Mùi P đối với anh Phùng Văn L theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L có 02 con chung là cháu Phùng Tiến Đ, sinh ngày 30/11/2016 và cháu Phùng Thị Thu H, sinh ngày 27/6/2020. Kể từ khi vợ chồng chị P, anh L sống ly thân thì các con chung vẫn sống cùng anh L và bố mẹ đẻ anh L là ông Phùng Dùng Th và bà Triệu Thị M. Các cháu Phùng Tiến Đ và Phùng Thị Thu H vẫn được anh Phùng Văn L và vợ chồng ông Phùng Dùng Th, bà Triệu Thị M chăm sóc, nuôi dưỡng và cho học hành đầy đủ.
Về tài sản, đất đai và vay nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh L là ông Phùng Dùng Th và bà Triệu Thị M nên chưa tạo lập được tài sản, đất đai chung; cũng không có vay nợ chung.
Về hộ khẩu thường trú: Kể từ khi kết hôn chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi phát sinh mâu thuẫn chị P đã bỏ đi nơi khác sinh sống còn anh Phùng Văn L và các con vẫn sống cùng nhà bố mẹ đẻ tại thôn K, xã S. Hiện tại, anh L đang đi làm thuê tại thành phố Hà Nội, thỉnh thoảng có về nhà và thường xuyên liên lạc với gia đình bằng điện thoại. Tuy nhiên, anh L chỉ thông báo là đang đi làm thuê tại Hà Nội nhưng không làm thủ tục khai báo tạm trú, tạm vắng nên gia đình và chính quyền địa phương không nắm được hiện tại anh L đang làm việc gì, ở địa chỉ cụ thể nào tại thành phố Hà Nội. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án chính quyền địa phương đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án sau đó chuyển lại cho người thân trong gia đình anh L để thông báo cho anh L biết việc chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh L và Tòa án triệu tập anh L đến làm việc, nhưng anh L không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Phùng Mùi P thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Phùng Văn L chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phùng Mùi P:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Mùi P được ly hôn với anh Phùng Văn L.
+ Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Phùng Tiến Đ, sinh ngày 30/11/2016 và cháu Phùng Thị Thu H, sinh ngày 27/6/2020 cho anh Phùng Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phùng Mùi P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Kết quả xác minh tại địa phương và lời trình bày của nguyên đơn chị Phùng Mùi P thể hiện vợ chồng chị P, anh L không có tài sản, đất đai vay nợ chung; chị P cũng không yêu cầu giải quyết, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị Phùng Mùi P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên do chị P là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn. Bị đơn anh Phùng Văn L không phải nộp tiền án phí.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Phùng Mùi P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn với anh Phùng Văn L, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phùng Văn L có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Na Hang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương cho thấy bị đơn anh Phùng Văn L có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy nguyên đơn chị Phùng Mùi P đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn anh Phùng Văn L. Anh Phùng Văn L đi làm ăn xa nhưng không thông báo tạm trú, tạm vắng với chính quyền địa phương. Mặc dù thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không thông báo địa chỉ mới nên gia đình và chính quyền địa phương không rõ anh Phùng Văn L hiện đang làm gì, ở địa chỉ cụ thể nào. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Giấy triệu tập; Thông báo về việc mở phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải) theo quy định của pháp luật, mặc dù anh Phùng Văn L đã biết được việc chị Phùng Mùi P khởi kiện xin ly hôn với mình, nhưng anh L không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh Phùng Văn L đến tham gia phiên tòa (niêm yết công khai) 02 lần nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Như vậy đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình che dấu địa chỉ, cố tình vắng mặt nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình. Quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn chị Phùng Mùi P có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và xét xử vụ án vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 179, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phùng Mùi P thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Phùng Văn L chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương từ năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 20/01/2017. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau ngày cưới hai vợ chồng về chung sống tại thôn K, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, sau đó dần phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không hợp về tính cách nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã mắng chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải, thôn xóm can thiệp nhưng vợ chồng vẫn không thể hóa giải mâu thuẫn mà ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Chị P xác định tình cảm vợ chồng với anh Phùng Văn L đã hết nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Phùng Văn L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L đã đến mức độ trầm trọng, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Phùng Mùi P được ly hôn với anh Phùng Văn L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L có 02 con chung là cháu Phùng Tiến Đ, sinh ngày 30/11/2016 và cháu Phùng Thị Thu H, sinh ngày 27/6/2020. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phùng Mùi P xác định kể từ khi vợ chồng chị sống ly thân thì các con chung vẫn sống cùng anh L và bố mẹ đẻ anh L là ông Phùng Dùng Th và bà Triệu Thị M nên khi ly hôn chị nhất trí giao cả hai con chung cho anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phùng Văn L cố tình vắng mặt, không có ý kiến cụ thể về việc giao nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Tòa án cũng không lấy được lời khai của cháu Phùng Tiến Đ để xác định cháu có nguyện vọng ở cùng với bố hay ở với mẹ. Tuy nhiên, kết quả xác minh tại địa phương và với người thân của bị đơn cũng thể hiện kể từ khi vợ chồng chị P và anh L sống ly thân thì cháu Phùng Tiến Đ và Phùng Thị Thu H vẫn sống cùng anh L và bố mẹ đẻ anh L, các cháu vẫn được chăm sóc, nuôi dưỡng, cho học hành đầy đủ. Mặt khác, bố mẹ đẻ anh L là ông Phùng Dùng Th và bà Triệu Thị M cũng nhất trí tiếp tục hỗ trợ anh L nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu Đ và cháu H khi anh L đi làm ăn xa nhà. Từ những phân tích trên, để đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên và không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của các con, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả hai con chung là cháu Phùng Tiến Đ và Phùng Thị Thu H cho anh Phùng Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phùng Mùi P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Quyền yêu cầu cấp dưỡng đối với cháu Phùng Tiến Đ, Phùng Thị Thu H của anh Phùng Văn L sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu anh L có yêu cầu.
* Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Qua kết quả xác minh tại địa phương và lời khai của nguyên đơn thể hiện vợ chồng chị Phùng Mùi P và anh Phùng Văn L không có tài sản, đất đai, vay nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phùng Mùi P cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn chị Phùng Mùi P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được miễn do là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị đơn anh Phùng Văn L không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phùng Mùi P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Mùi P được ly hôn với anh Phùng Văn L (Giấy chứng nhận kết hôn số 02, ngày 20/01/2017 tại UBND xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang).
2. Về con chung: Giao cháu Phùng Tiến Đ, sinh ngày 30/11/2016 và cháu Phùng Thị Thu H, sinh ngày 27/6/2020 cho anh Phùng Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phùng Mùi P không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Phùng Mùi P. Bị đơn anh Phùng Văn L không phải nộp tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phùng Mùi P và bị đơn anh Phùng Văn L được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Na Hang; - Chi cục THADS huyện Na Hang; - UBND xã S; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Hữu San |