- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 44/2025/DS-ST Ngày: 29/5/2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Đức và bà Nguyễn Thị Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2025/TLST-DS ngày 01/4/2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54A/2025/QĐXXST-DS ngày 26/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐ-ST ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Huỳnh Minh H, sinh năm 1987
Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ liên hệ: ấp T, thị trấn N, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: ông Trần Thanh V, sinh năm 1996.
Nơi đăng ký thường trú: 117/23/ Hoàng Văn Thụ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn ông H có mặt. Bị đơn ông V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Huỳnh Minh H trình bày:
Do quen biết nhau trong việc làm ăn nên vào ngày 20/3/2024 ông có cho ông Trần Thanh V vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất tự thỏa thuận (2%/tháng), thời hạn vay 02 tháng. Hai bên có lập “Hợp đồng vay tiền” tại Phòng công chứng Lê Thị Lệ Hằng (quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ). Sau khi lập “Hợp đồng vay tiền” ông đã giao đủ số tiền 400.000.000 đồng cho ông V và ông V có xác nhận đã nhận đủ tiền. Tuy nhiên, mặc dù đã quá hạn trả nợ nhưng ông V vẫn không chịu thanh toán cho ông, ông đã liên hệ nhiều lần nhưng ông V cố tính né tránh.
Nay ông Huỳnh Minh H yêu cầu ông Trần Thanh V phải trả số tiền vốn vay là 400.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 20/3/2024 cho đến ngày xét xử.
- Về phía bị đơn ông Trần Thanh V: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông V nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay ông V vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của ông H.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng mối quan hệ pháp luật, thụ lý và giải quyết đúng theo quy định tại Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý hồ sơ Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ khi tiến hành lập hồ sơ, ban hành các thông báo, xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng và tống đạt, niêm yết cho đương sự theo quy định tại. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015 tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Trần Thanh V có trách nhiệm trả cho ông Huỳnh Minh H số tiền 400.000.000 đồng và lãi suất theo quy định từ ngày 20/3/2024 cho đến ngày xét xử.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: nguyên đơn ông Huỳnh Minh H có đơn khởi kiện yêu cầu ông Trần Thanh V phải trả số tiền vay theo “Hợp đồng vay tiền” ngày 20/3/2024, xác định đây là tranh chấp về “Hợp đồng vay tài” sản quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn và “Hợp đồng vay tiền” ngày 20/3/2024, bị đơn có cung cấp địa chỉ thường trú tại ấp V, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Bị đơn ông Trần Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V.
Về nội dung: Hợp đồng vay tiền ngày 20/3/2024 xác lập giữa ông Huỳnh Minh H với ông Trần Thanh V được lập thành văn bản, được Văn phòng công chứng Lê Thị Lệ Hằng (quận N, thành phố Cần Thơ) công chứng chứng thực với nội dung “Bên A (Huỳnh Minh H) đồng ý cho bên B (Trần Thanh V) vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận....”. Cùng ngày 20/3/2024 ông V cũng xác nhận đã nhận đủ số tiền vay bằng biên nhận viết tay.
Xét thấy, hợp đồng vay tiền được lập trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo ông H, từ khi vay tiền đến nay ông V vẫn chưa thanh toán tiền vốn và lãi cho ông theo như thỏa thuận mặc dù ông có đòi nhiều lần.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án đã nhiều lần mời ông V đến để hòa giải, đối chiếu các khoản nợ với ông H nhưng ông V vắng mặt không lý do. Như vậy phía ông V không cung cấp chứng cứ nào để phủ nhận yêu cầu khởi kiện của ông H và đồng thời đến thời điểm này cũng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào thể hiện đã thực hiện xong số nợ trên cho ông H. Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”. Như vậy việc ông V vay tiền của ông H nhưng không trả đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của ông H là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông V có trách nhiệm trả cho ông H số tiền vốn vay là 400.000.000 đồng.
Về lãi suất: theo Hợp đồng vay tiền ngày 20/3/2024 các bên có thỏa thuận về lãi suất nhưng không xác định rõ lãi suất là bao nhiêu. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, lãi suất được tính như sau:
Vốn vay 400.000.000 đồng x 435 ngày (từ ngày 20/3/2024 đến ngày 29/5/2025) x 10%/năm (0,028%/ngày) = 48.720.000 đồng.
Như vậy tổng cộng tiền vốn và lãi ông V phải trả cho ông H là 448.720.000 đồng.
Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.
Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Minh H.
Buộc ông Trần Thanh V phải trả cho ông Huỳnh Minh H số tiền tổng cộng vốn, lãi là 448.720.000 đồng (bốn trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Ông Trần Thanh V phải chịu 21.948.800 đồng (hai mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Huỳnh Minh H không phải chịu án phí nên được hoàn lại 10.531.000 đồng (mười triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011559 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
- Ông Huỳnh Minh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Ông Trần Thanh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKS huyện Thoại Sơn; - Chi Cục THADS huyện Thoại Sơn; - Các đương sự - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |