vanban.org

Bản án 44/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân Hàng Thương Mại Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Sài Gòn-Nguyễn Thị Hoài"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 44/2025/DS-ST

HUYỆN DẦU TIẾNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày: 27-3-20 V/v “tranh chấp hợp đồng ụ[?28263]”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Tuấn. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Đắc Minh; 2. Ông Trương Hữu Bình. - Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 756/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp hợp đồng T dụng”, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T; địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, quận 3,thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Bà Ngô Thị Như H – Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng: địa chỉ: khu Bàu Hốt, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 16/5/2024). Có mặt - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; địa chỉ: ấp Suối Cạn, xã Cây Trường II, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; Tạm trú: Ấp Tiên Phong, xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 30/9/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 09/9/2020, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T (Sacombank) với bà Nguyễn Thị H ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ T dụng bao

gồm Giấy đề nghị cấp thẻ T dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ T dụng cá nhân của Ngân hàng Saccombank. Sau khi xem xét thu nhập của bà H, Sacombank đã đồng ý cấp 01 thẻ T dụng có số 356480-5971 và số 356480-1767 với mức T dụng là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ T dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch, thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ T dụng cá nhân của Sacombank. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 25/12/2023 Sacombank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ xấu. Mặc dù Sacombank đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà H để yêu cầu bà H trả nợ nhưng bà H không thực hiện. Do đó, Sacombank yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H phải thanh toán cho Sacombank toàn bộ số tiền nợ tạm Th đến ngày 24/3/2025 là 70.556.794 đồng, trong đó tiền gốc là 45.149.889 đồng và tiền lãi là 25.406.905 đồng. Tiếp tục Th lãi phát sinh sau ngày 14/3/2025 cho đến khi trả hết nợ gốc theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thể T dụng kiêm Hợp đồng ngày 09/9/2020. - Bị đơn bà H trình bày: Vắng mặt không có lý do - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên tòa có ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình tố tụng là đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hợp đồng T dụng theo quy định tại khoản 3, Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hiện bị đơn đang cư trú tại xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1, Điều 35; khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Bị đơn bà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, tham gia phiên tòa và cung cấp chứng cứ cho Tòa án nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh và nghĩa vụ của người bị kiện nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà H trả số tiền tạm Th đến ngày 24/3/2025 là 70.556.794 đồng, trong đó tiền gốc là 45.149.889 đồng và tiền lãi là 25.406.905 đồng. Tiếp tục Th lãi phát sinh sau ngày 14/3/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thể T dụng kiêm Hợp đồng ngày 09/9/2020. Theo đó, thể hiện bà H có vay của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương T và hiện còn thiếu tiền của Ngân hàng số tiền như trong đơn khởi kiện là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn H trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương T số tiền đã vay tạm Th đến ngày 24/3/2025 là 70.556.794 đồng, trong đó tiền gốc là 45.149.889 đồng và tiền lãi là 25.406.905 đồng. Tiếp tục Th lãi phát sinh sau ngày 14/3/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thể T dụng kiêm Hợp đồng ngày 09/9/2020 theo quy định tại Điều 428, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự. [4] Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tại phiên tòa là có căn cứ. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; - Căn cứ các Điều 428, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; - Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức T dụng; - Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H về việc “tranh chấp hợp đồng T dụng”. - Buộc bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương T tạm Th đến ngày 24/3/2025 là 70.556.794 đồng (bảy mươi triệu năm trăm năm mươi sáu ngàn bảy trăm chín mươi bốn đồng), trong đó: Tiền gốc là 45.149.889 đồng (bốn mươi lăm triệu một trăm bốn mươi chín ngàn tám trăm tám mươi chín đồng). Tiền lãi là 25.406.905 đồng (hai mươi triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn chín trăm lẻ năm đồng).

Tiếp tục Th lãi phát sinh kể từ ngày 25/03/2025 trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thể T dụng kiêm Hợp đồng ngày 09/9/2020 được ký kết giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương T với bà Nguyễn Thị H cho đến khi bà Nguyễn Thị H thanh toán xong khoản nợ. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: - Buộc bà Nguyễn Thị H phải nộp số tiền 3.527.840 đồng (ba triệu năm tră hai mươi bảy ngàn tám trăm bốn mươi đồng). - Hoàn trả cho Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài GÒn Thương T số tiền 1.359.311 đồng (một triệu ba trăm năm mươi chín ngàn ba trăm mười một đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003714 vào ngày 02/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. 3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ