vanban.org

Bản án 44/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 15/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức H 24 hai mươi bốn tháng tù. Thời hạn t tính t ngày bị b t phạm tội quả tang, ngày 18/12/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Huân - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HSST
Ngày: 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: B i Thanh Nhi n

Phạm Thị Nga

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, tên g i khác: không, sinh ngày 05/4/1981 tại t nh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện K, t nh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa h c vấn : 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy Q đã ch t và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1946; Bị cáo đã ly hôn; Có 02 con: Con lớn sinh năm 2011; con nh sinh năm 2015; Gia đình bị cáo có 06 anh chị em. Bị cáo là con thứ 6 trong gia đình;

- Tiền án: Theo bản án số 110/2017/HSST ngày 29/9/2017 Toà án nhân dân thành phố H, t nh Hòa Bình xử 48 bốn mươi tám tháng t về tội cướp giật tài sản, tổng hợp với bản án số 17/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện K c ng về tội cướp giật tài sản 36 tháng tù, Nguyễn Đức H phải chấp hành 84 tháng t chưa được xóa án tích .

- Tiền sự: Không

- Nhân thân:

+ Ngày 26/4/2017 Tòa án nhân dân huyện K, t nh Hòa Bình xử 36 tháng t về tội cướp giật tài sản;

+ Ngày 20/12/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện K, t nh Hòa Bình quy t định về việc áp dụng biện pháp đưa đối tượng vào Trung tâm chữa bệnh – giáo dục – lao động xã hội t nh Hòa Bình 12 tháng theo Quy t định số 4301/QĐ-UBND;

Bị cáo bị giam giữ t ngày 18/12/2023 cho đ n nay. Hiện đang đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Ngư i c u n l i ngh a v liên quan: Anh Nguyễn Việt D, sinh năm 1997; v ng mặt, có đơn đề nghị xét xử v ng mặt

Trú tại: xóm Đ ng Ngoài, xã V nh Ti n, huyện K, t nh Hòa Bình.

Người chứng ki n: ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1979 v ng mặt không có lý do

Trú tại: Tổ 9, phường Th, thành phố Hòa Bình, t nh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 18/12/2023 Nguyễn Đức H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28H1-25615 t chỗ làm ở thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, t nh Hòa Bình đi lên thành phố H với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân, đ n khu vực đầu cầu 1, thành phố H, H gặp một người đàn ông lạ mặt qua trao đổi H mua được 01 một gói ni-lông bên trong có chứa 02 (hai) gói ma túy với giá 800.000 tám tr m ngh n đ ng. Mua được ma túy H cất giấu vào trong ngăn ngoài của ví da màu nâu r i để vào trong túi áo khoác trong phía bên trái đang mặc r i điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi H đ n khu vực bờ đê thuộc tổ 7, phường Thịnh Lang, thành phố H thì bị tổ công tác của Công an phường Thịnh Lang, thành phố H kiểm tra phát hiện b t quả tang Nguyễn Đức H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã ti n hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật thu giữ và đưa đối tượng về trụ sở làm việc theo quy định.

Tại bản k t luận giám định số 13-A/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 25/12/2023 của Phòng K thuật hình sự Công an t nh Hòa Bình k t luận: “Chất bột dạng cục màu tr ng, h ng gói ký hiệu 1 và 2 trong phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi tên đối tượng: Nguyễn Đức H, sinh năm 1981, HKTT: Xóm C, xã Đ, huyện K, t nh Hòa Bình gửi giám định có khối lượng 0,85g (không phẩ tám mươi l m gam , là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine”.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 18/12/2023, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H đã ti n hành thu giữ của Nguyễn Đức H:

- Ma túy khối lượng 0,85g không phẩy tám mươi lăm gam , là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine;

- 01 (một ví da màu nâu, c đã qua sử dụng;

- 01 (một căn cước công dân và một giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức H;

- 01 (một chi c xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh bạc, biển kiểm soát 28H1-25615, đã qua sử dụng.

Cáo trạng số 44/CT-VKSTP ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử v ng mặt. Nôi dung đơn xác nhận đã nhận lại chi c xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh bạc, biển kiểm soát 28H1-25615, không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quy t định truy tố và đề nghị Hội đ ng xét xử:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 BLHS xử phạt: Nguyễn Đức H mức án t 24 đ n 30 tháng t về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định;

- Trả lại cho bị cáo một chi c ví nâu đã qua sử dụng; 01 (một căn cước công dân và 01 một giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức H.

- Đối với 01 một chi c xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh bạc, biển kiểm soát 28H1-25615, đã qua sử dụng đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị Hội đ ng xét xử không đề xem xét giải quy t.

Phần tranh luận: Bị cáo thấy tội danh, mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị ph hợp nên không có ý ki n tranh luận.

Lời nói sau c ng: Bị cáo nhận thức hành vi là đã vi phạm pháp luật, rất ân hận. Đề nghị Hội đ ng xét xử giơ cao, đánh kh , cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình lao động nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án, các nội dung đã đư c tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.

Về hành vi các bị cáo đã thực hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo ph hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang; vật chứng thu được; k t luận giám định c ng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Đức H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện chất ma túy, có nhân thân xấu, ngày 18/12/2023, H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,85 gam ma túy loại Heroin và Methaphetamine tại đầu cầu 1, thành phố Hòa Bình nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, khi đi đ n khu vực bờ đê thuộc tổ 7, phường Thịnh Lang, thành phố H, t nh Hòa Bình bị cơ quan công an phát hiện b t quả tang. Hành vi của Nguyễn Đức H đủ y u tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 bộ luật hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đ n chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và là nguyên nhân gây ra tội phạm khác. Bị cáo Nguyễn Đức H là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt t tương xứng, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ng a tội phạm chung.

Các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Cần áp dụng tình ti t giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có mẹ đ có công với cách mạng được tặng H chương kháng chi n hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chi n chống M cứu nước nên cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là những tình ti t giảm nhẹ Hội đ ng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Đức H là người có tiền án: Theo bản án số 110/2017/HSST ngày 29/9/2017 Toà án nhân dân thành phố H, t nh Hòa Bình xử 48 bốn mươi tám tháng t về tội cướp giật tài sản, tổng hợp với bản án số 17/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện K c ng về tội cướp giật tài sản 36 tháng tù, Nguyễn Đức H phải chấp hành 84 tháng t . Mặc d chưa được xóa án tích, đã ti p tục phạm tội, cần áp dụng tình ti t tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h, khoản 1, điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 một phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Nguyễn Đức H, sinh năm: 1981 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 18/12/2023. Tại phường Th, thành phố Hòa Bình, t nh Hòa Bình”. Mép dán phong bì có dấu tròn đ niêm phong của Phòng K thuật hình sự – Công an t nh Hòa Bình, chữ ký của giám định viên và thành phần tham gia niêm phong được bảo quản nguyên vẹn, là chất bị cáo tàng trữ trái phép, đ ng thời Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một ví da màu nâu, đã qua sử dụng, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận chi c ví là tài sản của bị cáo, được bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, d ng để cất giấu số ma tuý, xét thấy chi c ví đã c , lại là công cụ tàng trữ ma túy phục vụ cho việc phạm tội của bị cáo, cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 (một căn cứớc công dân và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức H là giấy tờ của bị cáo không liên quan đ n việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Riêng đối với chi c xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh bạc, biển kiểm soát 28H1-25615 thu giữ trong quá trình b t quả tang Nguyễn Đức H. Quá trình điều tra thu thập tài liệu chứng minh làm rõ chi c xe trên là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Việt D ng, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú: xóm Đ ng Ngoài, xã V nh Ti n, huyện K, t nh Hòa Bình (là cháu ruột của Nguyễn Đức H), trước ngày 18/12/2023 anh D ng có cho H mượn xe để đi làm nhưng H sử dụng xe đi mua ma túy, anh D ng không bi t và không liên quan đ n việc tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức H. Anh D ng có đơn xin lại tài sản, xét việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đ n việc giải quy t vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra ra quy t định xử lý vật chứng số 23 ngày 30/01/2024 trả lại xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh bạc, biển kiểm soát 28H1-25615 cho chủ sở hữu hợp pháp. Nên Hội đ ng xét xử không xem xét giải quy t.

Về trách nhiệm dân sự: Chi c xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh bạc, biển kiểm soát 28H1-25615 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Việt D ng, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú: xóm Đ ng Ngoài, xã V nh Ti n, huyện K, t nh Hòa Bình, cho bị cáo H mượn và không bi t bị cáo sử dụng phương tiện vào việc đi mua ma túy. Tại giai đoạn điều tra anh D ng đã nhận lại tài sản nêu trên. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử anh D ng có đơn đề nghị xét xử v ng mặt có nội dung xác nhận đã nhận được xe mô tô nêu trên và không có yêu cầu nào khác. Do vậy Hội đ ng xét xử không xem xét giải quy t về dân sự.

Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông mà bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho Nguyễn Đức H, do bị cáo khai không bi t tên tuổi, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người đàn ông, quá trình điều tra chưa đủ cơ sở để k t luận nên cơ quan điều tra ti p tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Nên Hội đ ng xét xử chưa đề cập xem xét giải quy t trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma

tuý.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức H 24 hai mươi bốn tháng tù. Thời hạn t tính t ngày bị b t phạm tội quả tang, ngày 18/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 một phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “ Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Nguyễn Đức H, sinh năm: 1981 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 18/12/2023. Tại phường Th, thành phố Hòa Bình, t nh Hòa Bình”. Mép dán phong bì có dấu tròn đ niêm phong của Phòng K thuật hình sự – Công an t nh Hòa Bình, chữ ký của giám định viên và thành phần tham gia niêm phong được bảo quản nguyên vẹn; Tịch thu tiêu huỷ 01 Một ví da màu nâu, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một căn cước công dân và 01 (một giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức H.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, t nh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 69/BB/24 ngày 02/4/2024.

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97 năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000đ (hai tr m ngh n đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa có có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm y t công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ