- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 28 - 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải
Bà Phạm Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế T, sinh ngày 04/6/1990 tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1, đã chết và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 06/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (có mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình S, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
Người chứng kiến:
- Anh Vũ Văn A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Anh Hoàng Tiến L, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ ngày 29/02/2024, tại khu vực thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình tổ công tác Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình phát hiện Nguyễn Đình S đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, biển kiểm soát 17B4-280.59 chở sau là Nguyễn Thế T có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q để làm việc. Tại đây, tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên trái T đang mặc 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ chứa các hạt tinh thể trong suốt; T khai nhận đó là ma túy đá T mua để sử dụng. Kiểm tra người Nguyễn Đình S không phát hiện, thu giữ gì. Kiểm tra chiếc xe mô tô, thu giữ tại cốp xe 01 cóng thủy tinh, 01 bật lửa ga, 01 nắp chai nhựa đục 02 lỗ, 02 đoạn ống nhựa; T khai nhận đó là dụng cụ T tự chế để sử dụng ma túy đá. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý đồ vật, niêm phong vật chứng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo không phát hiện, thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 297/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1862 gam (không phẩy một nghìn tám trăm sáu mươi hai gam). Methamphetamine STT: 247, Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Khoảng 12 giờ ngày 29/02/2024, bị cáo để vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, biển kiểm soát 17B4-280.5901 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá do bị cáo tự làm gồm 01 cóng thủy tinh, 01 bật lửa ga, 01 nắp chai nhựa đục 02 lỗ, 02 đoạn ống nhựa rồi đi từ nhà đến khu vực xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình mua của một người đàn ông khoảng 25 tuổi, không biết tên, địa chỉ 300.000 đồng ma túy đá bỏ vào túi áo khoác đang mặc rồi đi đến nhà bạn là Nguyễn Đình S rủ S đi sang thị trấn Q, huyện Q để uống nước, anh S đồng ý và điểu khiển xe mô tô trên chở bị cáo. Khi cả hai đi đến khu vực thuộc địa phận thôn L, xã C, huyện Q thì bị Công an huyện Q phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKSQP ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Thế T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung cáo trạng và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập cùng ngày 29/02/2024; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Phiếu xét nghiệm test nhanh morphin/heroin ngày 01/3/2024 của Trung tâm y tế huyện Q; Kết luận giám định số 297/KL-KTHS, ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ ngày 29/02/2024, tại khu vực thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Thế T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 túi Methamphetamine có khối lượng 0,1862 gam (không phẩy một nghìn tám trăm sáu mươi hai gam) mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo hiểu được tác hại của ma túy và biết rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện, vì vậy bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo trung thực toàn bộ hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã phân tích trên thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, thu nhập không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Trong vụ án này, anh Nguyễn Đình S là người điều khiển xe mô tô chở bị cáo T sang thị trấn Q, huyện Q vào trưa ngày 29/02/2024, nhưng anh S không biết bị cáo cất giấu ma túy trên người và bộ D sử dụng ma túy trong cốp xe mô tô; bản thân anh S không sử dụng ma túy, do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh S là đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 túi nilon chứa các hạt tinh thể trong suốt, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Methamphetamine và hoàn trả mẫu vật sau giám định; bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá do bị cáo tự làm gồm 01 cóng thủy tinh, 01 bật lửa ga, 01 nắp chai nhựa đục 02 lỗ, 02 đoạn ống nhựa. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và dụng cụ sử dụng ma túy, cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, biển kiểm soát 17B4-280.59 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ của bị cáo), nơi cư trú thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình cho bị cáo mượn, nhưng bà T2 không biết bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà T2 và ra quyết định trả lại xe cho bà là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thế T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 02 năm 2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 0,1579 gam (không phẩy một nghìn năm trăm bảy mươi chín gam) mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của bị cáo trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 297/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T; bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của bị cáo tự làm gồm: 01 cóng thủy tinh, 01 bật lửa ga, 01 nắp chai nhựa đục 02 lỗ, 02 đoạn ống nhựa.
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 14/5/2024.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thế T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐT CA huyện Quỳnh Phụ; - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳnh Phụ; - Sở Tư pháp Thái Bình; - Nhà tạm giữ CA huyện Quỳnh Phụ; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ; - UBND xã Điệp Nông, huyện Hưng Hà;; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương Liên |