- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Điệp Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––– Bản án số: 44/2024/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 19-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vì Văn Tùng;
Bà Đinh Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Mừng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Điệp Đ, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2005, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn B và bà Hà Thị Q; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật, bị cáo khai có sử dụng chất ma túy; bị tạm giữ từ ngày 06/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Hà Văn Đ1, sinh năm 1998; nghề nghiệp: Trồng trọt; nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
- Anh Hà Văn Q2, sinh năm 1990; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Hà Thị T, sinh năm 1964; nghề nghiệp: Trồng trọt; nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều tối ngày 06/4/2024, Hà Điệp Đ, sinh năm 2005, nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hoà Bình một mình điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 28H1 - 486.xx từ nhà đi lên khu vực xã Hang Kia mục đích để tìm mua ma túy. Dọc đường thuộc xóm Thung Ằng, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, Đ gặp và nói chuyện với một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết. Người phụ nữ này giới thiệu tên là C. Quá trình nói chuyện biết người này có bán ma túy nên Đ hỏi và mua được 01 gói nilon màu xanh bên trong có 02 viên hồng phiến với giá 100.000 đồng. Đ cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải Đ đang mặc, sau đó điều khiển xe mô tô đi về. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, khi về đến địa phận xóm Pheo, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, Hà Điệp Đ bị lực lượng Công an huyện Mai Châu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ gói ma túy Đ vừa mua được. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Kết luận giám định số: 184/KL-KTTS ngày 11/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: 02 viên nén màu hồng trong phong bì niêm phong một mặt có ghi "Vật chứng thu giữ của Hà Điệp Đ, sinh năm: 2005, trú tại: Xóm P, xã C, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình" gửi giám định có khối lượng 0,18g (Không phẩy mười tám gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKS-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Hà Điệp Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Điệp Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Hà Điệp Đ từ 12 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
Về vấn đề khác:
- Đối với người phụ nữ dân tộc Mông tên C mà Hà Điệp Đ khai đã bán ma tuý cho mình, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
- Đối với chiếc mô tô Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 28H1-486.xx, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được là tài sản do anh Hà Văn Đ1, sinh năm: 1998, nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình đang là người quản lý và sử dụng hợp pháp. Ngày 06/4/2024, Hà Điệp Đ mượn xe của anh Hà Văn Đ1 để sử dụng, Đ không nói với anh Đ1 mượn xe để đi đâu làm gì và anh Đ1 không biết việc Đ sử dụng xe để đi mua ma túy và không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ. Mặt khác Hà Điệp Đ không dùng xe mô tô này vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy. Hà Văn Q1 là người đứng tên trong đăng ký xe. Mặc dù trong quá trình điều tra, không lấy được lời khai của Hà Văn Q1 do Q1 không có mặt ở địa phương có biên bản xác nhận của Công an xã Cun Pheo, huyện Mai Châu trong hồ sơ, tuy nhiên mẹ của Q1 là bà Hà Thị T có lời khai và xác nhận chiếc xe mô tô trên Hà Văn Q1 đã bán cho Hà Văn Đ1 vào tháng 5/2022, lời khai này phù hợp với lời khai của Đ1 về việc Q1 đã giao hẳn xe cho Đ1 sử dụng để trừ vào số tiền Đ1 nợ Q1 12.000.000 đồng, (coi như đã bán lại xe cho Điệp). Nên xác định Hà Văn Đ1 đang là người quản lý và sử dụng hợp pháp. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả xe (kèm theo 01 chìa khóa xe) cho anh Hà Văn Đ1.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Việc bị cáo đã dùng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28H1- 486.xx đi mua ma túy anh Hà Văn Đ1 không biết, không liên quan. Bị cáo đề trả xe cho anh Hà Văn Đ1.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Văn Đ1, vắng mặt, tại cơ quan điều tra đã có lời khai, tóm tắt như sau: Ngày 06/4/2024, Hà Điệp Đ có mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28H1- 486.xx của Hà Văn Đ1 để sử dụng, Đ không nói là mượn xe để đi đâu, làm gì. Sau khi Đ bị bắt thì Đ1 mới biết việc Đ đã dùng chiếc xe trên đi tìm mua ma túy. Việc Đ mượn xe đi mua ma túy anh Đ1 không biết, không liên quan. Nguồn gốc chiếc xe mô tô trên là do anh Hà Văn Q1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình đã cho Đ1 sử dụng và quản lý để gán số nợ 12.000.000 đồng mà anh Q1 nợ Đ1. Hiện nay chiếc xe trên vẫn đang bị cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu thu giữ, anh Hà Văn Đ1 đề nghị Hội đồng xét xử trả chiếc xe mô tô trên cho mình.
Tóm tắt ý kiến của người làm chứng bà Hà Thị T: Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hà Điệp Đ bà T không biết, không liên quan. Còn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28H1- 486.xx bà T có biết chiếc xe này là của Hà Văn Q1 đã gán nợ cho Hà Văn Đ1, do Q1 nợ Đ1 số tiền 12.000.000 đồng, coi như đã bán xe, vào thời gian khoảng tháng 5/2022. Lý do bà biết việc này là do bà và Hà Văn Q1 là mẹ con, sống cùng nhà nên bà biết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Văn Q1 là người đứng tên trong đăng ký xe đối với chiếc xe mô Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 28H1- 486.xx đang bị tạm giữ. Quá trình điều tra không lấy được lời khai của Hà Văn Q1 do Q1 không có mặt ở địa phương và đã có biên bản xác nhận của Công an xã Cun Pheo, huyện Mai Châu và Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ Q1 tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng Q1 vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án để giải quyết đối với xe mô tô này.
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Hà Điệp Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/4/2024 tại xóm Pheo, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, Hà Điệp Đ bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,18 gam Methamphetamine. Kết quả điều tra xác định Đ mua ma tuý với một người phụ nữ không quen biết tại dọc đường thuộc xóm Thung Ằng, xã Hang Kia, huyện Mai Châu với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Hà Điệp Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Chứng cứ xác định không có tội: Không có.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó, nhưng bị cáo vẫn tàng trữ khối lượng 0,18 gam ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, khối lượng tàng trữ là 0,18 gam ma túy, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về án phí hình sự: Bị cáo Hà Điệp Đ đã được Tòa án nêu quy định của pháp luật là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp miễn án phí, tuy nhiên bị cáo có ý kiến không làm đơn xin miễn án phí. Nên bị cáo Hà Điệp Đông phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Hà Điệp Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Hà Điệp Đ 14 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 06/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, được niêm phong trong 01 phong bì.
- Trả chiếc xe mô tô Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 28H1- 486.xx (kèm theo 01 chìa khóa xe), cho anh Hà Văn Đ, sinh năm: 1998, nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 48/THA ngày 14/6/2024 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Hà Điệp Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm, người vắng mặt có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh HB; - STP tỉnh HB; - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT; - VKSND huyện MC; - Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC; - Chi cục THA dân sự; - Hồ sơ THAHS; - UBND xã Cun Pheo, huyện Mai Châu; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Phạm Thanh Tùng |