vanban.org

Bản án 44/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 01/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bàn Tuấn Đại phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bàn Tuấn Đại 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bàn Tuấn Đại cho Ủy ban nhân dân xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Tuấn Đại vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàn Tuấn Đại phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮKLẮK
Bản án số: 44/2024/HS-ST
Ngày: 01 – 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Lý.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Tha Mlô; 2. Ông Nguyễn Đăng Lân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CưM’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bàn Tuấn Đại; Sinh năm 1983; tại tỉnh Cao Bằng.

Nơi cư trú: Xóm Quang Trung, xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (sinh hoạt đảng tại Chi bộ xóm Quang Trung thuộc Đảng bộ xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); con ông Bàn Tiến Trường, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Đặng Thị Loan, sinh năm 1952; bị cáo có vợ là Hoàng Thị Trình, sinh năm 1991 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Bàn Tuấn Đại: Ông Nguyễn Đình Đạt, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

Địa chỉ: 39 Lý Thường Kiệt, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị hại:

1/ Ông Trần Xuân Thuấn (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Trần Ngọc Thảo, sinh năm 1989. (Vắng mặt)

Địa chỉ: 135/12 đường Y Ngông, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Ông Phạm Văn Ngọc, sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 212, buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

3/ Ông Văn Thành Trung, sinh năm 1954 (Có mặt).

Địa chỉ: Số nhà 211, buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Trần Bá Hùng, sinh năm 1977 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 213, buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Ông Đàm Xuân Bắc, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 3, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

* Người làm chứng:

1/ Ông Hoàng Văn Danh, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 8, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

2/ Anh Nông Văn Giong, sinh năm 2001 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm Tri Phương 2, xã Phi Hải, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 07 phút ngày 08/01/2024, Bàn Tuấn Đại (đã có giấy phép lái xe hạng E) điều khiển xe ô tô khách biển số 11B-004.20 trên xe có 27 hành khách lưu thông trên đường Hồ Chí Minh, theo hướng từ tỉnh Gia Lai đến thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Khi đi đến Km 1758+800 đường Hồ Chí Minh thuộc buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk thì phía trước có 03 xe ô tô con đi chậm nên Đại đánh lái sang trái để vượt 03 xe ô tô đi cùng chiều. Đại vừa đánh lái xe ô tô khách về phía bên trái, lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều 165cm thì lúc này có xe ô tô tải biển số 47C-287.87 do ông Trần Xuân Thuấn điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại nên phần đầu xe ô tô khách biển số 11B-004.20 va chạm trực diện với đầu xe ô tô tải biển số 47C-287.87. Sau đó, xe ô tô khách bị mất lái, tiếp tục lao sang phía bên trái đường, tông vào phần phía trước của ngôi nhà số 211 của ông Văn Thành Trung, nhà số 212 của anh Phạm Văn Ngọc và nhà số 213 của anh Trần Bá Hùng rồi mắc kẹt nên dừng lại. Hậu quả: ông Trần Xuân Thuấn tử vong trong ca bin xe ô tô tải, phần trước ngôi nhà của ông Trung, anh Ngọc và anh Hùng bị hư hỏng và 02 phương tiện hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 08/01/2024 xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là Km 1758+800 đường Hồ Chí Minh thuộc buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar; là đoạn đường thẳng, có mặt đường rộng 10,90m được trải nhựa bằng phẳng, không có vạch kẻ đường phân chia làn đường xe chạy, có hệ thống biển báo hiệu giao thông. Lấy mép đường bên phải hướng đi từ thị xã Buôn Hồ đi thành phố Buôn Ma Thuột làm mép đường chuẩn, điểm mốc cố định trụ VIETELL 8AR65, xác định: điểm va chạm đầu tiên nằm ở phần đường bên trái theo hướng đi từ thị xã Buôn Hồ đến thành phố Buôn Ma Thuột. Từ điểm va chạm đầu tiên đo vào mép đường chuẩn được 7,10m; đo đến tâm trục bánh xe sau bên phải xe ô tô tải biển số 47C-287.87 được 8,40m; đo đến tâm trục bánh xe sau bên phải xe ô tô khách biển số 11B-004.20 được 7,30m; đo đến điểm mốc cố định trụ VIETEL 8AR65 được 15,85m.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 41/KLGĐTT-PY ngày 07/02/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đắk Lắk kết luận nguyên nhân tử vong của ông Trần Xuân Thuấn: Chấn thương sọ não nặng/Chấn thương ngực kín nặng/ Nhiều thương tích do tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận giám định số 262/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Xe ô tô biển số 11B-004.20 có số khung không thay đổi, số máy không thay đổi. Xe ô tô biển số 47C-287.87 có số khung không thay đổi, số máy không đủ cơ sở kết luận.

Tại bản kết luận giám định số 263/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tập tin Video (ký hiệu A1): không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa; chụp được 08 (tám) ảnh diễn biến, hành vi trong tập tin video. Thiết bị giám sát hành trình (ký hiệu A2): Không tìm thấy tập tin video trong thời gian từ 13 giờ 06 phút 00 giây, ngày 08/01/2024 đến 13 giờ 08 phút 00 giây, ngày 08/01/2024 (theo thời gian hiển thị trong video). Tài khoản đăng nhập vào trang web có tên dientutct.com (ký hiệu A3): không tìm thấy dữ liệu tốc độ trong thời gian từ 13 giờ 06 phút 00 giây, ngày 08/01/2024 đến 13 giờ 08 phút 00 giây, ngày 08/01/2024.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện CưM’gar kết luận: 01 xe ô tô biển số 11B-004.20, giá trị thiệt hại là 70.900.000 đồng; 01 xe ô tô biển số 47C-287.87, giá trị thiệt hại tài sản là 99.800.000 đồng. Phần bị hư hỏng của căn nhà và tài sản bị hư hỏng trong nhà số 211 của ông Văn Thành Trung có giá trị thiệt hại là 24.155.000 đồng. Phần bị hư hỏng của căn nhà và tài sản bị hư hỏng trong nhà số 212 của ông Phạm Văn Ngọc có giá trị thiệt hại là 53.600.000 đồng. Căn nhà và tài sản trong nhà số 213 của ông Trần Bá Hùng có giá trị thiệt hại là 0 đồng.

Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar đã thu giữ vật chứng gồm: 01 xe ô tô biển số 11B-004.20, số máy WP12.375N1415L045898, số khung RN5B43SJCGC005295, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh đen; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0042855 của xe ô tô biển số 11B-004.20; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 11B-004.20; 01 giấy phép lái xe số 040074000030, hạng E có giá trị đến ngày 12/8/2026 mang tên Bàn Tuấn Đại; 01 xe ô tô biển số 47C-287.87, số máy D4BB7523999, số khung RLPRA17BP7T005503, nhãn hiệu HUYNDAI, màu sơn: xanh; 01 giấy phép lái xe số 660037818898, hạng B2 có giá trị đến ngày 14/11/2028 mang tên Trần Xuân Thuấn; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000695 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0531390 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 47C-287.87.

Bản cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar truy tố bị cáo Bàn Tuấn Đại về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bàn Tuấn Đại như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Bàn Tuấn Đại phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bàn Tuấn Đại từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe ô tô biển số 11B-004.20, số máy WP12.375N1415L045898, số khung RN5B43SJCGC005295, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh đen; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0042855 của xe ô tô biển số 11B-004.20; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 11B-004.20 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đàm Xuân Bắc; trả lại 01 xe ô tô biển số 47C-287.87, số máy D4BB7523999, số khung RLPRA17BP7T005503, nhãn hiệu HUYNDAI, màu sơn: xanh; 01 giấy phép lái xe số 660037818898, hạng B2 có giá trị đến ngày 14/11/2028 mang tên Trần Xuân Thuấn; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000695 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0531390 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 47C-287.87 cho bà Vũ Thị Đoan là vợ của ông Trần Xuân Thuấn. Đề nghị trả lại cho bị cáo Bàn Tuấn Đại 01 giấy phép lái xe số 040074000030, hạng E có giá trị đến ngày 12/8/2026 mang tên Bàn Tuấn Đại.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự: Ghi nhận việc ông Đàm Xuân Bắc là chủ xe ô tô khách biển số 11B-004.20 và bị cáo Bàn Tuấn Đại đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Trần Xuân Thuấn tổng số tiền 450.000.000 đồng, tự nguyện khắc phục hậu quả cho ông Phạm Văn Ngọc số tiền 60.000.000 đồng, cho ông Văn Thành Trung số tiền 30.000.000 đồng. Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Bá Hùng không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Đây là lần đầu bị cáo phạm tội, từ giai đoạn điều tra đến tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặc dù gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo nhưng bị cáo đã cùng chủ xe ô tô khách tự nguyện khắc phục hậu quả cho các bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng III đặc biệt khó khăn và là lao động chính trong gia đình chăm sóc mẹ già, 02 con nhỏ, vợ bị cáo thường xuyên đau ốm, bị cáo có ông nội và bố là người có công với cách mạng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị là 02 năm tù và cho bị cáo được hưởng án treo. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị cho bị cáo miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 07 phút ngày 08/01/2024 Bàn Tuấn Đại (đã có giấy phép lái xe hạng E) điều khiển xe ô tô biển số 11B-004.20 lưu thông trên đường Hồ Chí Minh, theo hướng từ tỉnh Gia Lai đến thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, khi đến Km 1758+800 thuộc buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, do Bàn Tuấn Đại vượt xe ô tô đang lưu thông cùng chiều phía trước và đã lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều nên đã đâm vào đầu xe ô tô biển số 47C-287.87 do ông Trần Xuân Thuấn điều khiển đang lưu thông theo chiều hướng ngược lại. Sau đó, xe ô tô biển số 11B-004.20 mất lái, tiếp tục lao sang phía bên trái đường, tông vào phần trước nhà số 211 của ông Văn Thành Trung, nhà số 212 của anh Phạm Văn Ngọc và nhà số 213 của anh Trần Bá Hùng rồi mắc kẹt nên dừng lại. Hậu quả, ông Trần Xuân Thuấn bị tử vong tại chỗ; xe ô tô biển số 47C-287.87 bị hư hỏng, trị giá tài sản bị thiệt hại là 99.800.000 đồng; một phần căn nhà số 211 cùng tài sản ở trong ngôi nhà của ông Văn Thành Trung bị hư hỏng với trị giá tài sản bị thiệt hại là 24.155.000 đồng; một phần căn nhà số 212 cùng tài sản ở trong ngôi nhà của ông Phạm Văn Ngọc bị hư hỏng với trị giá tài sản bị thiệt hại là 53.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 177.555.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bàn Tuấn Đại đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;…”.

…

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính về tham gia giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được khi tham gia giao thông đường bộ thì phải tuân thủ các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, bị cáo điều khiển xe ô tô chở khách là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi vượt xe đi cùng chiều không đảm bảo an toàn, lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều nên gây tai nạn và dẫn đến hậu quả là bị hại tử vong, thiệt hại về tài sản là 177.555.000 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cùng chủ xe ô tô khách đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, gia đình bị hại và được bị hại, gia đình bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ cận nghèo sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn; ông nội và bố của bị cáo là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

Với tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định trên, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là do lỗi vô ý, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo sinh sống tại vùng III đặc biệt khó khăn nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được giáo dục cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Ngày 06/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả lại: 01 xe ô tô biển số 11B-004.20, số máy WP12.375N1415L045898, số khung RN5B43SJCGC005295, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh đen; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0042855 của xe ô tô biển số 11B-004.20; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 11B-004.20 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đàm Xuân Bắc; trả lại 01 xe ô tô biển số 47C-287.87, số máy D4BB7523999, số khung RLPRA17BP7T005503, nhãn hiệu HUYNDAI, màu sơn: xanh; 01 giấy phép lái xe số 660037818898, hạng B2 có giá trị đến ngày 14/11/2028 mang tên Trần Xuân Thuấn; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000695 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0531390 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 47C-287.87 cho bà Vũ Thị Đoan là vợ của ông Trần Xuân Thuấn. Xét việc trao trả trên là phù hợp, cần chấp nhận.

Đối với 01 giấy phép lái xe số 040074000030, hạng E có giá trị đến ngày 12/8/2026 mang tên Bàn Tuấn Đại là tài sản hợp pháp của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đàm Xuân Bắc là chủ xe ô tô khách biển số 11B-004.20 và bị cáo Bàn Tuấn Đại đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Trần Xuân Thuấn tổng số tiền 450.000.000 đồng, tự nguyện khắc phục hậu quả cho ông Phạm Văn Ngọc là chủ căn nhà số 212, buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar số tiền 60.000.000 đồng, cho ông Văn Thành Trung là chủ căn căn nhà số 211, buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar số tiền 30.000.000 đồng. Các bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo và ông Đàm Xuân Bắc.

Đối với anh Trần Bá Hùng là chủ căn nhà số 213 buôn Ko Hneh, xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk nhận thấy phần trước căn nhà chỉ bị hư hỏng nhẹ nên anh Hùng không có yêu cầu bồi thường về phần dân sự.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bàn Tuấn Đại phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Bàn Tuấn Đại 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bàn Tuấn Đại cho Ủy ban nhân dân xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe ô tô biển số 11B-004.20, số máy WP12.375N1415L045898, số khung RN5B43SJCGC005295, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh đen; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0042855 của xe ô tô biển số 11B-004.20; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 11B-004.20 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đàm Xuân Bắc; trả lại 01 xe ô tô biển số 47C-287.87, số máy D4BB7523999, số khung RLPRA17BP7T005503, nhãn hiệu HUYNDAI, màu sơn: xanh; 01 giấy phép lái xe số 660037818898, hạng B2 có giá trị đến ngày 14/11/2028 mang tên Trần Xuân Thuấn; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000695 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0531390 của xe ô tô biển số 47C-287.87; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số 47C-287.87 cho bà Vũ Thị Đoan là vợ của ông Trần Xuân Thuấn.

- Trả lại cho bị cáo Bàn Tuấn Đại 01 giấy phép lái xe số 040074000030, hạng E có giá trị đến ngày 12/8/2026 mang tên Bàn Tuấn Đại.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 586; 589; 591 Bộ luật dân sự:

Ghi nhận việc ông Đàm Xuân Bắc là chủ xe ô tô khách biển số 11B-004.20 và bị cáo Bàn Tuấn Đại đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Trần Xuân Thuấn tổng số tiền 450.000.000 đồng, tự nguyện khắc phục hậu quả cho ông Phạm Văn Ngọc số tiền 60.000.000 đồng, cho ông Văn Thành Trung số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Bá Hùng không yêu cầu bồi thường gì thêm.

*Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bàn Tuấn Đại được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi gửi:

Cỡ chữ