vanban.org

Bản án 44/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 03/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng h nh s .

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị T. S a Bản án h nh s sơ th m số 08/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. [2] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng h nh s . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Tâm và 3bc phạm tội "gá bạc, đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng h nh s .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh s; Điều 357 Bộ luật Tố t ng h nh s; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-PT
Ngày: 03-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành, ông Bích Văn Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Toàn- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 và ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại tr s Toà án nhân dân tỉnh B nh Thuận, xét x phúc th m công khai v án h nh s phúc th m th lý số 28/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Huỳnh Thị T, Huỳnh Thị Tuyết N, Phan Thị H và Nguyễn Thị Thanh T1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án h nh s sơ th m số 08/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh B nh Thuận.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Huỳnh Thị T (tên gọi khác Năm, N1), sinh năm 1983 tại tỉnh B nh Thuận; HKTT thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh B nh Thuận. Nơi cư trú: thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh B nh Thuận; nghề nghiệp: kinh doanh; tr nh độ văn hóa: 1/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc S và bà Ngô Thị V; chồng Nguyễn Ngọc N2 (đã ly hôn), con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền s : Không, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 03/11/2023. Bị cáo hiện đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Huỳnh Thị Tuyết N (tên gọi khác: không), sinh năm: 1976 tại Bình Thuận; HKTT: thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh B nh Thuận; Chỗ hiện nay: thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh B nh Thuận; Nghề nghiệp: buôn bán; Tr nh độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T2 (chết) và bà Nguyễn Thị B (chết); Chồng: Nguyễn Văn P; con: có 02 con lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền s : Ngày 24/6/2023, bị Công an thị xã L x phạt hành chính bằng h nh thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 36227/QĐ-XPHC; đóng phạt ngày 28/8/2023. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 27/11/2023. Hiện đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo N: Luật sư Nguyễn Minh L. Địa chỉ:Trung tâm tư vấn pháp luật , Hội Luật gia huyện Đ, tỉnh Long An. Có mặt.

3. Phan Thị H (tên gọi khác: không), sinh ngày: 01/01/1954 tại Bình Thuận; HKTT: thôn H, xã T, huyện H, tỉnh B nh Thuận; Chỗ hiện nay: thôn H, xã T, huyện H, tỉnh B nh Thuận; Nghề nghiệp: làm nông; Tr nh độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan D (chết) và bà Nguyễn Thị Á (chết); Chồng: Vũ Trọng H1 (chết); con: có 06 con, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền s : Không;

- Nhân thân: Ngày 24/01/2019, bị Công an huyện H x phạt hành chính bằng h nh thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 84582/QĐ-XPVPHC; Ngày 30/12/2019, bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam x phạt 20.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 90/2019/HSST, đã chấp hành xong các quyết định của bản án nên được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 08/10/2023. Hiện đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Nguyễn Minh L. Địa chỉ:Trung tâm tư vấn pháp luật , Hội Luật gia huyện Đ, tỉnh Long An. Có mặt.

4. Nguyễn Thị Thanh T1 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1980 tại Bình Thuận; HKTT: khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh B nh Thuận; Chỗ hiện nay: khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh B nh Thuận; Nghề nghiệp: buôn bán; Tr nh độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T3 (chết) và bà Phạm Thị N3; Chồng: Đào Văn Đ (đã ly hôn); con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án: Không;

Tiền s : Ngày 23/5/2023, bị Công an thị trấn T, huyện H x phạt hành chính bằng h nh thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 8338/QĐ-XPHC; đóng phạt ngày 07/12/2023;

Nhân thân: Ngày 02/02/2016, bị Công an thành phố P x phạt hành chính bằng h nh thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 344/QĐ-XPVPHC.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 27/11/2023, hiện đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Ngoài ra, trong v án còn có các bị cáo Lê Thanh V1, Trương Thị Kim L1, Nguyễn Đức L2, Phạm Lý Hồng V2, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Thị Kiều T4, Phan Thị Hoài V3 và Lưu Thị Út L3 không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thị T là chủ nhà nghỉ K có địa chỉ tại thôn H, xã T, thị xã L. Tuy nhiên, do tình hình kinh doanh không thuận lợi nên từ khoảng cuối tháng 9 năm 2023, T đã cho một số người quen biết đến nhà nghỉ K của m nh chơi đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền để thu tiền xâu. Ngày 28/9/2023, khi T đang nhà nghỉ K thì có Huỳnh Thị Tuyết N, Nguyễn Thị Kiều T4, Nguyễn Xuân H2, Phan Thị L4, Nguyễn Đức L2, Phan Thị H, Trương Thị Kim L1, Lê Thanh V1, Phạm Lý Hồng V2, Phan Thị Hoài V3, Nguyễn Thị Thanh T1 đến chơi. Lúc này, có một số người đặt vấn đề xin đánh bạc xóc đĩa ăn thua bằng tiền tại nhà nghỉ của T và trả tiền xâu thì T đồng ý. Theo đó, T quy định cứ một tiếng sẽ thu xâu 50.000 đồng/người đối với con bạc đánh nhiều và thu 10.000 đồng đến 20.000 đồng/người đối với các con bạc đánh ít. Sau khi thỏa thuận xong, T chỉ các con bạc đi lên phòng số 04 nhà nghỉ K để chơi đánh bạc.

Về hình thức đánh bạc: Sòng bạc chơi với h nh thức xóc đĩa ăn thua bằng tiền. D ng c để xóc đĩa gồm 1 đĩa, 1 chén và 04 con vị được cắt h nh tròn (01 mặt trắng và 01 mặt màu). Người xóc cái sẽ tiến hành xóc đĩa và đặt xuống bàn để các con bạc đặt cược vào 02 ô chẵn, lẻ. Tỉ lệ thắng thua giữa các con bạc là 1:1 (tức đặt 1 ăn 1). Quy ước chẵn, lẻ như sau: khi m bát nếu 04 con vị đều mặt trắng hoặc 04 con vị đều mặt xanh hoặc 02 con trắng, 02 con xanh là chẵn; còn lại là lẻ. Tuy nhiên, người xóc cái không ăn thua với các con bạc mà các con bạc t ăn thua với nhau, ai cũng có quyền m chén và chịu trách nhiệm ăn thua với các con bạc còn lại. Do không có ai xóc cái nên Huỳnh Thị Út L5 là người được Huỳnh Thị T thuê đến nhà nghỉ K để dọn dẹp phòng, t nguyện vào xóc cái để những con bạc đánh bạc ăn tiền với nhau và nếu con bạc nào thắng th sẽ cho L5 tiền.

Sau khi chu n bị xong, Huỳnh Thị Út L5 là người xóc cái cho 10 con bạc tham gia đánh bạc tại phòng số 4 nhà nghỉ K gồm: Huỳnh Thị Tuyết N, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Đức L2, Phan Thị H, Lê Thanh V1, Nguyễn Thị Kiều T4, Phạm Lý Hồng V2, Trương Thị Kim L1, Nguyễn Thị Thanh T1, Phan Thị Hoài V3. Các con bạc bắt đầu tham gia đánh bạc với mức ăn thua ban đầu từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Ván đầu tiên, L5 xóc cái và H2 là người m chén ăn thua với các con bạc khác.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi L5 xóc cái ván thứ hai và đặt xuống, các con bạc bắt đầu đặt cược nhưng chưa có kết quả th bị Công an huyện H phối hợp với Công an thị xã L ập vào bắt quả tang, thu giữ tang vật gồm:

- Thu giữ trên sòng bạc 01 bộ d ng c đánh bạc 01 chén, 01 dĩa, 04 quân vị và số tiền 3.200.000 đồng.

- Thu giữ của: Huỳnh Thị Tuyết N số tiền 2.300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Redme 5G; Nguyễn Xuân H2 số tiền 650.000 đồng và 01 điện thoại hiệu Samsung; Nguyễn Đức L2 số tiền 2.070.000 đồng, 01 điện thoại hiệu Iphone và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 86B4-659.89; Phan Thị H số tiền 7.800.000 đồng; Lê Thanh V1 số tiền 700.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6; Nguyễn Thị Kiều T4 số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO; Phạm Lý Hồng V2 số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại N4; Trương Thị Kim L1 số tiền 30.000 đồng và 01 điện thoại hiệu J-start; Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 25.000 đồng và 01 điện thoại hiệu Nokia; Phan Thị Hoài V3 01 điện thoại Iphone 11; Huỳnh Thị Út L5 01 điện thoại Oppo.

- Tại thời điểm bị bắt, trong phòng còn có Phan Thị L4 và Dương Thị N5. Tạm giữ của L4 số tiền 600.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 8 và 01 điện thoại Nokia; tạm giữ của N5 số tiền 3.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo.

- Riêng đối với Huỳnh Thị T, đến ngày 29/9/2023 đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đầu thú.

Quá tr nh điều tra xác định hành vi đánh bạc của từng người như sau:

- Huỳnh Thị Tuyết N: Mang theo số tiền 2.400.000 đồng để đánh bạc; đặt cược ván thứ hai với số tiền 100.000 đồng và chưa có kết quả ăn thua th bị bắt. Thu giữ 2.300.000 đồng là tiền s d ng vào m c đích đánh bạc.

- Nguyễn Xuân H2: Mang theo số tiền 750.000 đồng để đánh bạc, chơi 02 ván, mỗi ván 50.000 đồng và đều thua, còn lại 650.000 thu giữ là tiền s d ng vào m c đích đánh bạc.

- Lê Thanh V1: Mang theo số tiền 800.000 đồng để đánh bạc; đặt một ván với số tiền 100.000 đồng nhưng chưa kịp ăn thua th bị bắt. Thu giữ 700.000 đồng, là tiền s d ng vào m c đích đánh bạc.

- Phạm Lý Hồng V2: Mang theo 500.000 đồng để đánh bạc; đặt 02 ván mỗi ván 50.000 đồng và thua. Thu giữ số tiền 400.000 đồng là tiền s d ng vào m c đích đánh bạc.

- Nguyễn Thị Kiều T4: Mang theo 700.000 đồng để đánh bạc; đặt 02 ván mỗi ván 100.000 đồng và thua. Khi bị bắt thu giữ số tiền 500.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc.

- Phan Thị H: Mang theo số tiền 7.950.000 đồng và lấy ra số tiền 500.000 đồng để s d ng vào m c đích đánh bạc; đặt 02 ván với số tiền là 50.000 đồng và 100.000 đồng chưa có kết quả ăn thua th bị bắt. Tạm giữ số tiền 7.800.000 đồng, trong đó có số tiền 350.000 đồng dùng để đánh bạc, còn số tiền 7.450.000 đồng s d ng m c đích s d ng cá nhân, không dùng để đánh bạc.

- Trương Thị Kim L1: Mang theo 80.000 đồng để đánh bạc; đặt 01 ván 50.000 đồng và chưa có kết quả th bị bắt. Thu giữ số tiền 30.000 đồng là tiền s d ng vào m c đích đánh bạc.

- Nguyễn Đức L2: Mang theo số tiền 2.120.000 đồng và s d ng 800.000 đồng vào m c đích đánh bạc; đặt 01 ván 50.000 đồng và chưa có kết quả ăn thua th bị bắt. Tạm giữ số tiền 2.070.000 đồng, trong đó số tiền 750.000 đồng là tiền s d ng vào m c đích đánh bạc, còn 1.320.000 đồng không dùng để đánh bạc.

- Nguyễn Thị Thanh T1: Mang theo 75.000 đồng để đánh bạc, đặt 01 ván 50.000 đồng nhưng chưa có kết quả th bị bắt. Thu giữ 25.000 đồng là tiền s d ng vào m c đích đánh bạc.

- Phan Thị Hoài V3: Mang theo số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, đặt 01 ván 100.000 đồng và chưa có kết quả th bị bắt. Khi bắt th ném số tiền 200.000 đồng còn lại xuống sòng bạc.

- Huỳnh Thị T: Khai nhận không tham gia đánh bạc. Tuy nhiên, lời khai của Nguyễn Xuân H2 khai nhận T có tham gia một ván đánh bạc với số tiền 300.000 đồng; các con bạc khác đều khai T không tham gia đánh bạc; Cơ quan điều tra đã cho H2 và T đối chất nhưng không làm rõ được.

- Đối với Phan Thị L4 (vợ H2): Các con bạc và L4 đều khai nhận L4 không tham gia đánh bạc.

- Đối với Dương Thị N5: Đến nhà nghỉ K để t m chồng, không tham gia đánh bạc.

Về vật chứng thu giữ trong v án đã được x lý như sau:

- Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại những đồ vật, tài sản không liên quan đến hành vi đánh bạc cho: Huỳnh Thị Tuyết N 01 điện thoại di động hiệu Redme 5G; Nguyễn Xuân H2 01 điện thoại hiệu Samsung; Nguyễn Đức L2 số tiền 1.320.000 đồng, 01 điện thoại hiệu Iphone màu trắng và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 86B4-659.89; Phan Thị H số tiền 7.450.000 đồng; Lê Thanh V1 01 điện thoại Iphone 6; Nguyễn Thị Kiều T4 01 điện thoại di động hiệu OPPO; Phạm Lý Hồng V2 01 điện thoại Nokia; Trương Thị Kim L1 01 điện thoại hiệu J-start; Nguyễn Thị Thanh T1 01 điện thoại hiệu Nokia; Phan Thị Hoài V3 01 điện thoại Iphone; Huỳnh Thị Út L5 01 điện thoại Oppo; Phan Thị L4 số tiền 600.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 8 và 01 điện thoại Nokia; Dương Thị N5 số tiền 3.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo.

- Đối với số tiền 8.905.000 đồng (bao gồm 3.200.000 đồng thu trên chiếu bạc và 5.705.000 đồng thu giữ của các con bạc là tiền đánh bạc), 01 chén, 01 đĩa, 04 con vị h nh tròn, tất cả đã được chuyển sang Chi c c Thi hành án dân s thị xã La Gi quản lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội “Gá bạc”.

Các bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N, Phan Thị H, Nguyễn Thị Thanh T1 đều phạm tội “Đánh bạc”.

Áp d ng: Điểm b khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật h nh s .

X phạt: Bị cáo Huỳnh Thị T 01 (một) năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 03/11/2023.

Áp d ng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật h nh s .

X phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 27/11/2023.

Áp d ng: Khoản 1 Điều 321; Điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh s .

X phạt: Bị cáo Phan Thị H 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 08/10/2023.

Áp d ng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh s .

X phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 27/11/2023.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về tội danh và h nh phạt đối với các bị cáo khác, quyết định về x lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/01/2024, bị cáo Phan Thị H kháng cáo đề nghị xem xét áp d ng các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s cho bị cáo như thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn, là người đủ 70 tuổi tr lên, bị bệnh huyết áp, tiểu đường, mẹ là người có công với cách mạng.

Ngày 30/01/2024 bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt do hoàn cảnh gia đ nh khó khăn, ly hôn chồng, con sinh năm 2000 bị thiểu não, là lao động duy nhất trong gia đ nh, mẹ đẻ tai biến nằm một chỗ.

Ngày 30/01/2024 bị cáo Huỳnh Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt và xin được hư ng án treo, v bản thân bị cáo bị bệnh và đang tr c tiếp chăm sóc mẹ già, yếu bị bệnh (cung cấp hồ sơ điều trị và giấy ra viện của bị cáo và mẹ bị cáo); là lao động chính trong gia đ nh (có xác nhận của chính quyền địa phương); Thư cảm ơn của UBND thị xã L, bà T đã có nhiều đóng góp cho địa phương trong địa dịch covid 19.

Ngày 02/02/2024 bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N kháng cáo xin được hư ng t nh tiết giảm nhẹ con bị bệnh khuyết tật não đời sống th c vật, nằm một chỗ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của bị cáo Huỳnh Thị T: Xin Hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ h nh phạt và cho bị cáo được hư ng án treo. Bị cáo có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới hồ sơ điều trị và giấy ra viện của bị cáo và mẹ bị cáo (Ngô Thị V) của Bệnh viện Đ1, tỉnh B nh Thuận; giấy xác nhận của chính quyền địa phương xã T; thư cảm ơn của UBND thị xã L ngày 18/10/2021.

- Ý kiến của bị cáo Phan Thị H: Xin Hội đồng xét x giảm nhẹ h nh phạt và xin được hư ng án treo, cung cấp giấy tờ điều trị bệnh và giấy ra viện của Bệnh viện N6 thuộc S Y tế thành phố H; giấy xác nhận bệnh của Phòng khám Đ2.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1: Xin Hội đồng xét x giảm nhẹ h nh phạt và xin được hư ng án treo, cung cấp hồ sơ điều trị bệnh của mẹ ruột Phạm Thị N3 và giấy ra viện của Bệnh viện YHCT-PHCN thuộc S Y tế thành phố H; Giấy ra viện của Bệnh viện Đ3 thuộc S Y.

- Ý kiến của bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N: Xin Hội đồng xét x giảm nhẹ h nh phạt và xin được hư ng án treo, cung cấp đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương hoàn cảnh gia đ nh khó khăn đang nuôi con bị bệnh khuyết tật đặc biệt nặng, đời sống th c vật nằm một chỗ cần mẹ chăm sóc (có h nh ảnh kèm theo).

- Ý kiến của Luật sư bào chữa: Các bị cáo H và bị cáo N bị Tòa án cấp sơ th m xét x về tội đánh bạc là đúng, tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt v chưa ăn thua với nhau bằng tiền đã bị công an bắt nên phải chịu trách nhiệm h nh s về phạm tội chưa đạt theo Điều 15 và Điều 57 Bộ luật h nh s . Bị cáo H là người già đang mắc nhiều thứ bệnh phải điều trị; bị cáo N có hoàn cảnh đặc biệt, có con nhỏ bị bệnh dạng khuyết tật đặc biệt nặng, nằm một chỗ không t ăn uống, đi lại được nên bà N phải thường xuyên chăm sóc, nếu không chăm sóc sẽ nguy hiểm đến tính mạng của cháu. Các bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ, đã rất hối hận về hành vi phạm tội của m nh, hoàn cảnh gia đ nh đặc biệt khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho các bị cáo thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Thuận: Tại phiên tòa phúc th m các bị cáo cung cấp thêm các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s mới. Các bị cáo khai báo thành kh n, tỏ thái độ rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của m nh, c thể:

Đối với bị cáo Huỳnh Thị T, ngoài các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s đã được Tòa án cấp sơ th m xem xét th tại phiên tòa phúc th m bị cáo tỏ thái độ rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh, không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s , bản thân bị cáo có nhiều bệnh và đang nuôi mẹ già yếu có nhiều bệnh, trong quá tr nh sinh sống tại địa phương có nhiều đóng góp là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh s . Do đó, xét thấy bị cáo đủ các điều kiện được hư ng án treo theo Điều 65 Bộ luật h nh s , nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giữ nguyên mức án Tòa án cấp sơ th m đã tuyên nhưng cho bị cáo được hư ng án treo, ấn định thời gian th thách cũng đủ để cải tạo, giáo d c bị cáo dưới s giám sát của chính quyền địa phương, thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Phan Thị H có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh s . Bị cáo có nhân thân xấu nên Tòa án cấp sơ th m x phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc th m bị cáo H tỏ ra rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh, bị cáo là người già yếu hiện nay đang mắc nhiều thứ bệnh đang điều trị. Xét thấy, bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh s nên đủ điều kiện áp d ng khoản 3 Điều 54 Bộ luật h nh s , đề nghị cho bị cáo h nh phạt dưới mức thấp nhất của khung h nh phạt (03 tháng) là thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi th c hiện hành vi phạm tội đã thành kh n khai báo về hành vi phạm tội của m nh. Bị cáo có hoàn cảnh gia đ nh khó khăn, là lao động chính, con nhỏ bị bệnh. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh s . Bị cáo có tiền s về tội đánh bạc nên Tòa án cấp sơ th m x phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc th m bị cáo N tỏ ra rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh và hứa sẽ từ bỏ, không bao giờ tái phạm. Bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương hoàn cảnh gia đ nh của bị cáo hiện đặc biệt khó khăn phải nuôi con bị bệnh khuyết tật đặc biệt nặng (đời sống th c vật, nằm một chỗ, đang hư ng trợ cấp xã hội hàng tháng, có giấy xác nhận khuyết tật của UBND xã T và h nh ảnh kèm theo). Do đó, đề nghị hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt (03 tháng) cho bị cáo, thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi th c hiện hành vi phạm tội đã thành kh n khai báo về hành vi phạm tội của m nh. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh s . Bị cáo có một tiền s về hành vi đánh bạc và nhân thân xấu bị x phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên Tòa án cấp sơ th m x phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc th m bị cáo tỏ thái độ rất hối hận về hành vi phạm tội của m nh và hứa sẽ không bao giờ tái phạm và yêu cầu xem xét đến hoàn cảnh gia đ nh của bị cáo đã ly hôn chồng, hiện phải một m nh nuôi con và chăm sóc mẹ già yếu mắc nhiều thứ bệnh (có cung cấp hồ sơ điều trị bệnh và giấy ra viện). Do đó, đề nghị hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt (03 tháng) cho bị cáo, thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Từ những nhận định trên, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố t ng h nh s , chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị T; s a bản án h nh s sơ th m. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phan Thị H, Huỳnh Thị Tuyết N và Nguyễn Thị Thanh T1, s a bản án h nh s sơ th m.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, đề nghị của Luật sư bào chữa, Kiểm sát viên. Hội đồng xét x nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thị T, Huỳnh Thị Tuyết N, Phan Thị H và Nguyễn Thị Thanh T1 nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo tr nh t phúc th m.

Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo Huỳnh Thị T thừa nhận Tòa án cấp sơ th m xét x bị cáo về tội “Gá bạc” là đúng, không oan. Sau khi xét x sơ th m, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt và xin được hư ng án treo.

Các bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N, Phan Thị H và Nguyễn Thị Thanh T1 thừa nhận Tòa án cấp sơ th m xét x các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan. Sau khi xét x sơ th m, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt và xin được hư ng án treo.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét x phúc th m nhận thấy:

Ngày 28/9/2023, tại nhà nghỉ K thuộc thôn H, xã T, thị xã L, Huỳnh Thị T đã cho 11 con bạc gồm: Huỳnh Thị Tuyết N, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Đức L2, Phan Thị H, Lê Thanh V1, Nguyễn Thị Kiều T4, Phạm Lý Hồng V2, Trương Thị Kim L1, Nguyễn Thị Thanh T1, Phan Thị Hoài V3 đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn thua bằng tiền nhằm thu tiền xâu. Tổng số tiền 11 con bạc s d ng đánh bạc là 8.905.000 đồng.

Với hành vi s d ng địa điểm thuộc quyền s hữu của m nh để cho 11 người đánh bạc nhằm m c đích thu tiền xâu mà tổng số tiền s d ng đánh bạc là 8.905.000 đồng nên hành vi của Huỳnh Thị T đã bị Tòa án cấp sơ th m xét x về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình s là có căn cứ, đúng pháp luật.

Với hình thức chơi đánh xóc đĩa mà các con bạc t ăn thua với nhau (không ăn thua với người xóc cái), là hình thức đánh bạc với nhau, nên hành vi của Huỳnh Thị Tuyết N, Phan Thị H, Nguyễn Thị Thanh T1 và các bị cáo khác đã bị Tòa án cấp sơ th m xét x về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình s , với tổng số tiền tất cả các con bạc đã s d ng và sẽ s d ng vào việc đánh bạc là 8.905.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị T. Tòa án cấp sơ th m sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s , nhân thân của bị cáo đã x phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là phù hợp.

Ngoài các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s đã được Tòa án cấp sơ th m xem xét th tại phiên tòa phúc th m bị cáo tỏ thái độ rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh, cung cấp các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s mới như: bản thân bị cáo bị nhiều bệnh (rối loạn chức năng tiền đ nh, dây thần kinh liên sườn, trào ngược dạ dày, th c quản, đau vùng cổ gáy), bị cáo đã ly hôn và hiện đang chăm sóc mẹ ruột già yếu, bị nhiều bệnh (khó và mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng tiền đ nh, trào ngược dạ dày th c quản, đau vùng cổ gáy) theo hồ sơ điều trị và giấy ra viện của bị cáo và mẹ bị cáo (Ngô Thị V) của Bệnh viện Đ1, tỉnh B nh Thuận); Trong quá tr nh sinh sống tại địa phương xã T từ năm 2020 đến nay bị cáo đã có nhiều đóng góp cho thôn về quỹ người nghèo, đền ơn đáp nghĩa, quà trung thu hàng năm, ủng hộ, giúp đỡ bộ phận chốt, giữ trong đại dịch Covid 19 (có xác nhận của chính quyền địa phương xã T); bị cáo đã được Ủy ban nhân dân thị xã L ghi nhận có công sức đóng góp về tinh thần và vật chất trong đại dịch Covid 19 và có Thư cảm ơn đối với bị cáo vào ngày 18/10/2021. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh s .

Xét thấy, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh, t nguyện ra đầu thú, chưa có tiền án, tiền s , không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s , bản thân bị cáo có nhiều bệnh và đang nuôi mẹ già yếu có nhiều bệnh, trong quá tr nh sinh sống có nhiều đóng góp cho địa phương, có nơi tạm trú rõ ràng, ổn định (có đơn xác nhận tạm trú của Công an xã T). Do đó, Hội đồng xét x xét thấy bị cáo đủ các điều kiện được hư ng án treo (theo văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao) nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giữ nguyên mức án Tòa án cấp sơ th m đã tuyên nhưng cho bị cáo được hư ng án treo, ấn định thời gian th thách cũng đủ để cải tạo, giáo d c bị cáo dưới s giám sát của chính quyền địa phương, thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Xét kháng cáo của bị cáo Phan Thị H: Bị cáo Phan Thị H có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh s . Bị cáo có nhân thân xấu nên Tòa án cấp sơ th m x phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc th m bị cáo H tỏ ra rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh, cung cấp các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s mới như bị cáo đang mắc nhiều thứ bệnh như chóng mặt kịch phát lành tính- hạ kali máu, di chứng nhồi máu não; đái tháo đường T, tăng huyết áp + thiếu máu cơ tim, rối loạn chức năng gan, di chứng nhồi máu cũ (theo giấy tờ điều trị bệnh và giấy ra viện của Bệnh viện N6 thuộc S Y tế thành phố H và giấy xác nhận của Phòng khám Đ2). Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh s . Xét thấy, bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh s nên đủ điều kiện áp d ng khoản 3 Điều 54 Bộ luật h nh s . Do đó, hội đồng xét x xem xét cho bị cáo h nh phạt dưới mức thấp nhất của khung h nh phạt, thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo là người già.

Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N: Bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi th c hiện hành vi phạm tội đã thành kh n khai báo. Tại phiên tòa sơ th m, bị cáo N nộp đơn tr nh bày gia cảnh có xác nhận của chính quyền địa phương về gia đ nh khó khăn, là lao động chính, con nhỏ bị bệnh. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh s . Bị cáo có tiền s về tội đánh bạc nên Tòa án cấp sơ th m x phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc th m bị cáo N tỏ ra rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh, bị cáo cung cấp đơn xác nhận của chính quyền địa phương, xác nhận hoàn cảnh gia đ nh của bị cáo đặc biệt khó khăn đang nuôi con Nguyễn Thị Phương T5, sinh năm 2011, dạng khuyết tật vận động thần kinh, mức độ khuyết tật đặc biệt nặng (có bản sao chứng th c Giấy xác nhận khuyết tật số 62/LG/TT04 ngày 03/5/2017 của UBND xã T), đời sống th c vật, nằm một chỗ, hiện đang hư ng trợ cấp xã hội hàng tháng. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh s . Do đó, hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo, thể hiện s nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi th c hiện hành vi phạm tội đã thành kh n khai báo. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh s . Bị cáo có một tiền s về hành vi đánh bạc và nhân thân xấu bị x phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên Tòa án cấp sơ th m x phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc th m bị cáo tỏ thái độ rất hối hận về hành vi phạm tội của m nh, bị cáo yêu cầu xem xét đến hoàn cảnh gia đ nh của bị cáo đã ly hôn chồng, hiện phải nuôi và chăm sóc mẹ già yếu mắc nhiều thứ bệnh bị liệt n a người, cơn đau thắt ng c, di chứng bệnh mạch máu não, ch n đoán ngón tay lò xo ngón III(P), bệnh lý tăng huyết áp (theo hồ sơ điều trị bệnh và giấy ra viện của Bệnh viện YHCT-PHCN thuộc S Y; giấy ra viện của Bệnh viện Đ3). Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh s . Do đó, hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Xét ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo H và bị cáo N cho rằng hai bị cáo phạm tội nhưng chưa đạt là không đúng pháp luật trên cơ s phân tích các yếu tố cầu thành của tội đánh bạc, do đó không được chấp nhận. Về đề nghị xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho các bị cáo H và N sẽ được hội đồng xét x xem xét trong quá tr nh nghị án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Thuận là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Do kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thị T, Phan Thị H, Huỳnh Thị Tuyết N và Nguyễn Thị Thanh T1 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí h nh s phúc th m.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc th m không xem xét.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng h nh s .

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị T. S a Bản án h nh s sơ th m số 08/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.

[2] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng h nh s .

Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N, Phan Thị H và Nguyễn Thị Thanh T1. S a Bản án h nh s sơ th m số 08/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.

[3] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật H nh s .

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội “Gá bạc”.

X phạt: Bị cáo Huỳnh Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc th m (03/6/2024).

Giao bị cáo Huỳnh Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh B nh Thuận giám sát, giáo d c trong thời gian th thách.

Trường hợp người bị phạt tù được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú th th c hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án h nh s .

Trong thời gian th thách, người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v 02 (hai) lần tr lên th Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành h nh phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.

[4] Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh s .

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N phạm tội “Đánh bạc”.

X phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Tuyết N 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 27/11/2023.

[5] Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật H nh s .

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

X phạt: Bị cáo Phan Thị H 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 08/10/2023.

[6] Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh s .

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 phạm tội “Đánh bạc”.

X phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T1 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 27/11/2023.

[7] Về án phí h nh s phúc th m: Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Huỳnh Thị T, Phan Thị H, Nguyễn Thị Thanh T1 và Huỳnh Thị Tuyết N không phải chịu án phí h nh s phúc th m.

[8] Các quyết định khác của Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi tỉnh B nh Thuận không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[9] Bản án phúc th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/6/2024).

Cỡ chữ