- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xác định con cho cha H- A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn H về việc “Tranh chấp về xác định con cho cha” với đối với bị đơn chị Nguyễn Hà Phương A. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tiến L. Xử:
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/6/2024. V/v: “Tranh chấp về xác định con cho cha”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Dương Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Bà Mai Lương Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 389/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2024 về việc “Tranh chấp về xác định con cho cha”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Số A H, Phường A, thành phố Đ.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Hà Phương A, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Số A H, Phường A, thành phố Đ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Tiến L, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
(Các đương sự có mặt, anh L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG V ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2024 và lời khai của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn H trình bày:
Trước đây anh cũng có vợ là Phạm Thị Kim P nhưng đã ly hôn từ tháng 8/2015. Trong thời gian từ tháng 01/2021, anh và chị Nguyễn Hà Phương A có phát sinh tình cảm, thời gian này anh và chị Phương A có một con chung với nhau.
Ngày 08/11/2021 chị Phương A đã sinh con và đặt tên cháu là Nguyễn Tấn Minh K. Tuy nhiên, do tình hình dịch Covid nên đến tháng 5/2022 anh chị mới làm đăng ký kết hôn.
Chị A và chồng cũ anh Nguyễn Tiến L đã ly hôn từ tháng 4/2021 nhưng tháng 11/2021 chị A sinh con trai cháu K nên chính quyền địa phương không cho làm giấy khai sinh vì cho rằng cháu K sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị A với anh L.
Anh chị cũng đã tiến hành giám định ADN để xác định con. Nay anh H khởi kiện đề nghị Tòa án xác định cháu Nguyễn Tấn Minh K, sinh ngày 08/11/2021 theo giấy chứng sinh ngày 08/11/2021 là con ruột của anh Nguyễn Tấn H.
Ngoài ra, anh không trình bày gì thêm.
* Bị đơn chị Nguyễn Hà Phương A trình bày:
Trong khoảng thời gian từ năm 2019 chị phát sinh nhiều mâu thuẫn với chồng cũ là Nguyễn Tiến L. Từ tháng 10/2020 chị và anh L quyết định sống ly thân và nộp đơn ra tòa án làm thủ tục ly hôn.
Ngày 14/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 54/2021/QĐST-HNGĐ công nhận chị và anh L thuận tình ly hôn cũng như con chung, án phí.
Riêng cháu Nguyễn Tấn Minh K, sinh ngày 08/11/2021 theo giấy chứng sinh ngày 08/11/2021 không phải con chung giữa chị với anh L mà là con chung của chị với anh Nguyễn Tấn H. Do dịch covid nên mãi tháng 5/2022 anh H và chị mới đi đăng ký kết hôn nên đến nay chưa làm giấy khai sinh cho cháu K được.
Nay anh H đã làm xét nghiệm ADN chứng minh con trai chị theo giấy chứng sinh số 4491, quyển số 48 do Bệnh viện đa khoa tỉnh L cấp ngày 08/11/2021 (tên anh chị đặt cho con là Nguyễn Tấn Minh K) là con ruột của anh Nguyễn Tấn H.
Nay anh H yêu cầu xác nhận con cho cha thì chị cũng đồng ý.
Ngoài ra, chị không trình bày gì thêm.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh H đề nghị Tòa án xác định cháu Nguyễn Tấn Minh K, sinh ngày 08/11/2021 theo giấy chứng sinh ngày 08/11/2021 là con ruột của anh Nguyễn Tấn H.
Bị đơn chị Nguyễn Hà Phương A cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án xác định cháu Nguyễn Tấn Minh K, sinh ngày 08/11/2021 theo giấy chứng sinh ngày 08/11/2021 là con ruột của anh Nguyễn Tấn H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định cháu Nguyễn Tấn Minh K do chị Nguyễn Hà Phương A sinh ngày 08/11/2021 theo giấy chứng sinh ngày 08/11/2021 là con ruột của anh Nguyễn Tấn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn anh H khởi kiện đề nghị Tòa án xác định cháu Nguyễn Tấn Minh K, sinh ngày 08/11/2021 theo giấy chứng sinh ngày 08/11/2021 là con ruột của anh H. Hiện nay bị đơn chị Phương A đang sinh sống tại Phường A, thành phố Đ. Vì vậy, cần xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp về xác định con cho cha” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với anh Nguyễn Tiến L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo quy định chung.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tấn H thì: Trước đây anh cũng có vợ là Phạm Thị Kim P nhưng đã ly hôn từ tháng 8/2015. Trong thời gian từ tháng 01/2021, anh và chị Nguyễn Hà Phương A có phát sinh tình cảm, thời gian này anh và chị Phương A có một con chung với nhau sinh ngày 08/11/2021 đặt tên Nguyễn Tấn Minh K.
Theo bị đơn chị Nguyễn Hà Phương A thì chị và anh Nguyễn Tiến L là vợ chồng. Trong khoảng thời gian từ năm 2019 chị phát sinh nhiều mâu thuẫn với chồng cũ là anh Nguyễn Tiến L. Từ tháng 10/2020 chị và anh L quyết định sống ly thân và nộp đơn ra Tòa án làm thủ tục ly hôn. Trong thời gian sống ly thân với anh L thì chị Phương A quen biết và có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Tấn H.
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 54/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (Bút lục số 08) thể hiện giữa anh Nguyễn Tiến L và chị Nguyễn Hà Phương A chỉ có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tuyết N, sinh ngày 08/10/2010 và Nguyễn Hoàng Song N1, sinh ngày 23/9/2015.
Đến ngày 08/11/2021, chị Nguyễn Hà Phương A đã sinh 01 con trai tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L theo Giấy chứng sinh số 4491, Quyển số 48 ngày 08/11/2021 và chị Phương A, anh H đặt tên con trai là Nguyễn Tấn Minh K. Sau khi ly hôn với anh Nguyễn Tiến L thì chị Phương A và anh Nguyễn Tấn H đã đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân Phường A1, thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/5/2022 (Bút lục số 21).
Mặt khác, theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt của anh L đề ngày 10/6/2024 (Bút lục số 29) thì anh L trình bày: Anh và chị Phương A đã xảy ra mâu thuẫn và chị Phương A đã rời đi khỏi nhà anh từ tháng 10/2020 đến tháng 4/2021 việc ly hôn giữa anh chị mới hoàn tất. Trong thời gian đó đến nay chị Phương A không một lần trở lại nhà anh.
Hơn nữa, theo Phiếu kết quả xét nghiệm ADN ngày 13/5/2024 của Trung tâm C (Bút lục số E) kết luận mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Tấn H và mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Tấn M Khang có quan hệ huyết thống Cha – Con.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp về xác định con cho cha để tuyên xử theo hướng nhận định nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn anh H không phải chịu án phí. Hoàn trả cho nguyên đơn anh H số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000809 ngày 23/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn chị Phương A phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 88, 89, 91 và khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn H về việc “Tranh chấp về xác định con cho cha” với đối với bị đơn chị Nguyễn Hà Phương A. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tiến L. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn H xác định: con trai do chị Nguyễn Hà Phương A đã sinh ra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L theo Giấy chứng sinh số 4491, Quyển số 48 ngày 08/11/2021 có tên thường gọi Nguyễn Tấn M Khang là con đẻ của anh Nguyễn Tấn H.
2. Về án phí:
- Hoàn trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Tấn H số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000809 ngày 23/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn chị Nguyễn Hà Phương A phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn anh Nguyễn Tấn H, bị đơn chị Nguyễn Hà Phương A có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng anh Nguyễn Tiến L vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 - Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND TP. Đà Lạt; - Chi cục THADS TP. Đà Lạt; - UBND P.A, TP. Đà Lạt; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Dƣơng Thị Liên |