vanban.org

Bản án 44/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Lê Mộng Đ.

Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Mộng Đ và anh Mai Linh Vũ V được ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Mộng Đ - Mai Linh Vũ V - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Lê Mộng Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-8-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Chúc Ngân

Bà Cao Thị Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 235/ 2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Mộng Đ

sinh năm 1990

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: Số A, ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

2. Bị đơn:

Anh Mai Linh Vũ V sinh năm 1983

Địa chỉ: Số A, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Lê Mộng Đ trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Mộng Đ và anh Mai Linh Vũ V quen biết, tìm hiểu và yêu nhau được khoảng gần một năm thì tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25/10/2010.

Theo chị Đ, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau khi chị Đ sinh con thứ hai thì mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do anh V không phụ giúp chị Đ chăm lo cho gia đình mà để một mình chị Đ phải “gánh vác” nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, tuy chị Đ đã nhiều lần khuyên anh V thay đổi nhưng không có kết quả, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên lớn tiếng cãi nhau, thậm chí anh V còn đánh chị Đ nhưng không để lại thương tích. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng tính tình của anh V vẫn không thay đổi. Từ khoảng đầu năm 2023, khi mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được chị Đ đã đưa hai con về nhà cha mẹ đẻ (ở xã G) sống cho đến nay. Thời gian vợ chồng không sống chung anh V không có mong muốn hàn gắn đoàn tụ với chị Đ mà thường xuyên đến gây chuyện với chị Đ và xúc phạm cha mẹ của chị. Cách đây khoảng một năm chị Đ có nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhưng vì muốn cho anh V có cơ hội để thay đổi nên chị Đ đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, kể từ đó đến nay vợ chồng cũng không liên hệ hay nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn. Nay chị Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Linh Vũ V.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Mai Lê Nhã P, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Mai Lê Hoàng K, sinh ngày 21/01/2013, hiện các con đều đang sống với chị Đ. Khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung; chị Đ không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Mộng Đ khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Mai Linh Vũ V vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lê Mộng Đ và anh Mai Linh Vũ V được ly hôn.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Mai Lê Nhã P, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Mai Lê Hoàng K, sinh ngày 21/01/2013 cho chị Đ được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đ không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

+ Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Mộng Đ và anh Mai Linh Vũ V tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25/10/2010, căn cứ Điều 9 và Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đây được xem là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị Đ và anh V đã không còn sống chung với nhau từ khoảng đầu năm 2023 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình. Do quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nhưng chị Đ và anh V không trình báo nên chính quyền địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa các bên, lời khai của chị Đ mặc dù không được anh V thừa nhận nhưng phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 126/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất); phù hợp với kết quả xác minh ngày 20/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã G3:“... Hiện anh Mai Linh Vũ V đang sinh sống tại địa phương nhưng chị Lê Mộng Đ đã chuyển sinh sống về xã G, không sinh sống tại xã G3 … ” và kết quả xác minh cùng ngày 20/3/2024 của Công an xã G 3:“... Hiện anh Mai Linh Vũ V đang sinh sống tại địa chỉ số A, ấp G, xã G, huyện T … ”. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng anh V đều không đến thể hiện việc anh V không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị Đ.

Từ các phân tích trên, xét mâu thuẫn giữa chị Đ và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị Đ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị Đ và anh V có hai con chung là cháu Mai Lê Nhã P, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Mai Lê Hoàng K, sinh ngày 21/01/2013.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo chị Đ, hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, lời khai của chị Đ phù hợp với kết quả xác minh ngày 20/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã G3: “... Xác minh tại ban ấp nắm bắt từ khoảng cuối năm 2023 đến nay cả hai cháu K và P đều không sinh sống tại địa chỉ nhà số A ấp G cùng với anh V ...”. Chị Đ xác định đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con chung; yêu cầu của chị Đ phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao hai con chung cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Chị Đ hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chị Đ không yêu cầu nên tạm thời anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh V vắng mặt nên không có ý kiến trình bày; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.

Về án phí: Chị Lê Mộng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 9; Điều 11; Điều 89 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Lê Mộng Đ.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Mộng Đ và anh Mai Linh Vũ V được ly hôn.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Mai Lê Nhã P, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Mai Lê Hoàng K, sinh ngày 21/01/2013 cho chị Lê Mộng Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.2 Anh Mai Linh Vũ V được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Tạm thời anh Mai Linh Vũ V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Mộng Đ không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Mộng Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0007690 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Lê Mộng Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ