- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HSST Ngày: 08-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Văn Sơ
2. Ông Cầm Văn Tổ
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Bà Sa Hoàng Nhật Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Đinh Thị N, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1972 tại huyện Mê Linh, TP Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Thôn TN, xã VK huyện ML, Thành phố Hà Nội. Nơi ở: Bản YB, xã CC, huyện MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Đinh Văn L, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị H sinh năm 1952. Bị cáo có chồng là Trương Văn M sinh năm 1967, hiện trú tại thôn KN, xã VK, huyện ML, Thành phố Hà Nội. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con bé nhất sinh năm 1997.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án số 108/2011/HSST ngày 28/9/2011 của TAND huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Đinh Thị N 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trương Thị Th, sinh năm 1990, địa chỉ: Tổ 9, thị trấn QM, huyện ML, TP Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 06/9/2022, Đinh Thị N đang ở nhà tại bản YB, xã CC, huyện MS thì có 01 người đàn ông và 01 người phụ nữ (không biết tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô (N không nhớ đặc điểm, biển kiểm soát) đến nhà N hỏi bán măng ớt. Sau đó, người đàn ông đặt vấn đề hỏi mua 40 viên Hồng phiến, 300.000 VNĐ Heroine, N nảy sinh ý định mua ma túy để bán lại cho người đàn ông kiếm lời nên đồng ý và hẹn khoảng 11 giờ cùng ngày giao ma túy tại khu vực dốc bản Nà Hường, xã Nà Bó, huyện MS. Sau đó, người đàn ông điều khiển xe mô tô chở người phụ nữ đi về hướng xã Nà Bó, huyện MS. N điều khiển xe mô tô hiệu Honda
- Wave S, biển kiểm soát: 29Z1 -106.63 đến khu vực trung tâm bản Yên Bình, xã CC, huyện MS để tìm mua ma túy. Tại đây, N gặp và mua được của 01 người đàn ông tự giới thiệu tên là Tủa (không biết họ tên, địa chỉ) 01gói bằng nilon màu xanh bên trong chứa 40 viên Hồng phiến và Heroine với giá 2.900.000VNĐ. N bảo Tủa đứng đợi để N đem bán số ma túy đi bán rồi sẽ quay lại trả tiền cho Tủa, Tủa đồng ý. N cầm gói ma túy trên tay trái và điều khiển xe mô tô đi về nhà rồi mở ra kiểm tra thì thấy bên trong gói nilon màu xanh có chứa 02 gói nilon màu xanh trong đó gói thứ nhất có chứa 40 viên Hồng phiến, gói thứ hai chứa 05 gói nhỏ gói bằng nilon màu xanh bên trong đều chứa Heroine. N lấy 01 gói nhỏ nilon màu xanh bên trong chứa Heroine cất giấu vào trong cuộn bao tải tại trên vách tường trong kho ngô của gia đình mục đích ai hỏi mua thì bán kiếm lời, số còn lại N gói lại như ban đầu. Khoảng 11 giờ cùng ngày N cầm gói ma túy ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi đến chỗ hẹn để giao ma túy. Khi N đi đến khu vực đường thuộc bản Nà Hường, xã Nà Bó thì bị tổ công tác Công an xã Nà Bó, huyện MS phát hiện, kiểm tra và thu giữ vật chứng nêu trên.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MS thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Đinh Thị N, kết quả thu giữ: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine (tại cuộn bao tải để trên vách tường trong kho ngô nhà Đinh Thị N); 01 chứng minh nhân dân số 001172005013 cấp ngày 21/9/2015 mang tên Đinh Thị N và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 011166 cấp ngày 19/4/2021 mang tên Nguyễn Thị Thuỳ Linh (tại phòng ngủ của Đinh Thị N).
Ngày 06/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MS phối hợp với Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Đinh Thị N, kết quả:
- Thu giữ khi bắt quả tang Đinh Thị N: Khối lượng 40 viên nén màu hồng là 3,93 gam, lấy 0,50 gam làm mẫu ký hiệu M1; Khối lượng chất bột nén màu trắng là 1,03 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu từ M2 đến M5;
- Khối lượng chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà ở của Đinh Thị N là 1,63 gam, lấy 0,16 gam làm mẫu ký hiệu M6. Mẫu ký hiệu từ M1 đến M6 trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số 1512/KL-KTHS ngày 08/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“- Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,50 gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 đến M6 đều là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là M2 = 0,24 gam; M3 = 0,25 gam; M4 = 0,31 gam; M5=0,23 gam; M6 = 0,16 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,93 gam; loại Methamphetamine và 2,66 gam; loại Heroine”.
Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSMS ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Đinh Thị N về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Thị N từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Thị N.
Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và vật chứng còn lại ký hiệu T1= 3,43 gam Mathamphetamine, T2= 1,47 gam Heroine.
Trả lại cho bị cáo Đinh Thị N 01 chứng minh thư nhân dân số 001172005013 ngày 21/9/2015 do cục CSĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp mang tên Đinh Thị N.
Trả lại cho chị Trương Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave S, sơn màu đỏ - bạc - đen, biển kiểm soát 29Z1- 106.63, số khung RLHJC52CZ132331, số máy JC52E4171626, xe không có gương chiếu hậu, không chìa khóa điện, bị xước hư hỏng nhiều chỗ, xe đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 011166 ngày 19/4/2012 mang tên Nguyễn Thị Thùy Linh.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đinh Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân huyện MS đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an xã Nà Bó, huyện MS, tỉnh Sơn La lập vào hồi 11 giờ 45 phút và Biên bản khám xét do Công an huyện MS lập vào hồi 20 giờ 10 phút cùng ngày 06/9/2022 đối với bị cáo Đinh Thị N thu giữ 3,93 gam Methamphetamine và 2,66 gam Heroine mục đích N tàng trữ để bán kiếm lời.
Căn cứ bản kết luận giám định số 1512/KL- KTHS ngày 08/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Đinh Thị N ký hiệu M1, khối lượng của mẫu gửi giám định 0,50 gam, loại Methamphetamine, ký hiệu M2 đến M5 khối lượng của mẫu gửi giám định lần lượt là M2= 0,24 gam, M3=0,25 gam, M4=0,31 gam, M5=0,23 gam, cùng loại Heroine. Vật chứng thu giữ khi khám xét người, nhà ở, đồ vật của Đinh Thị N ký hiệu M6, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam.
Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 3,93 gam, loại Methamphetamine và 2,66 gam loại Heroine.
Lời khai của bị cáo Đinh Thị N tại phiên tòa thừa nhận do hám lời nên đã tàng trữ 3,93 gam Methamphetamine và 2,66 gam Heroine để bán kiếm lời.
Lời khai của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đinh Thị N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
Xét tính chất vụ án: Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường nhưng bị cáo Đinh Thị N do hám lời nên đã tàng trữ Heroine và Methamphetamine để bán cho các đối tượng nghiện khác. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đinh Thị N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Về nhân thân: Tại bản án số 108/2011/HSST ngày 28/9/2011 của TAND huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Đinh Thị N 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã được xóa án tích.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo N không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc Methamphetamine và Heroine bị thu giữ, Đinh Thị N khai mua của một người đàn ông tự giới thiệu tên là Tủa (không biết rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực bản Yên Bình, xã CC, huyện MS (việc mua bán không có ai cùng tham gia, chứng kiến). Ngoài lời khai của N không có chứng cứ, tài liệu nào khác. Do đó, Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị can Đinh Thị N phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 3,93 gam Methamphetamine và 2,66 gam Heroine thu giữ trong vụ án.
Đối với người đàn ông đặt vấn đề mua ma tuý của Đinh Thị N. Quá trình điều tra xác định N không biết tên, địa chỉ của người đàn ông, quá trình trao đổi không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Ngoài lời khai của N không có cơ sở để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MS tiến hành điều tra, xác minh mở rộng vụ án.
Vật chứng vụ án:
Đối với 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và vật chứng còn lại ký hiệu T1= 3,43 gam Mathamphetamine, T2= 1,47 gam Heroine. Xét là những vật không có giá trị sử dụng và Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo Đinh Thị N giấy tờ liên quan đến nhân thân của bị cáo: 01 chứng minh thư nhân dân số 001172005013 ngày 21/9/2015 do cục CSĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp mang tên Đinh Thị N.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave S, sơn màu đỏ - bạc - đen, biển kiểm soát 29Z1- 106.63, số khung RLHJC52CZ132331, số máy JC52E4171626, xe đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 011166 ngày 19/4/2012 mang tên Nguyễn Thị Thùy Linh. Xét là tài sản của chị Trương Thị T, việc bị cáo N sử dụng vào việc đi mua ma túy chị T không biết, không liên quan. Chị T có nguyện vọng được xin lại xe để quản lý sử dụng nên cần trả lại cho chị Trương Thị T quản lý sử dụng xe.
Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đinh Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đinh Thị N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Đinh Thị N 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 9 năm 2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Thị N.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và vật chứng còn lại ký hiệu T1= 3,43 gam Mathamphetamine, T2= 1,47 gam Heroine.
Trả lại cho bị cáo Đinh Thị N 01 chứng minh nhân dân số 001172005013 ngày 21/9/2015 do cục CSĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp mang tên Đinh Thị N.
Trả lại cho chị Trương Thị Thúy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave S, sơn màu đỏ - bạc - đen, biển kiểm soát 29Z1- 106.63, số khung RLHJC52CZ132331, số máy JC52E4171626, xe đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 011166 ngày 19/4/2012 mang tên Nguyễn Thị Thùy Linh.
3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đinh Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện MS, tỉnh Sơn La; - THADS huyện MS, tỉnh Sơn La; - Công an huyện MS, tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Tráng A Tếnh |