- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 03 – 4 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Phụng
2. Bà Lê Thị Sinh Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Hữu D, sinh ngày 10/6/1975; Nơi cư trú: Số nhà 30, ngõ 02, đường H, tổ 04, phường Q, thành phố T, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Đức M và bà Bùi Thị T1.
Tiền án: Bản án số 90/2012/HSST ngày 08/6/2012 của Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2014. Chưa thi hành án phí và tiền phạt bổ sung.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 77/HSST ngày 01/11/1999 của Tòa án nhân dân thị xã T xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, sung quỹ ngày 06/9/2007.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 193/QĐ-XPVPHC ngày 19/4/2006 của Công an huyện V, tỉnh T phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong.
Bản án số 204/2015/HSST ngày 08/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2017. Chấp hành xong án phí và tiền phạt bổ sung ngày 22/6/2021.
Bị tạm giữ từ ngày 19/12/2022 đến ngày 22/12/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Anh T2, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T3, xã T4, thành phố T, tỉnh T.
- Người chứng kiến:
+ Anh Nguyễn Tiến V1, sinh năm 1973. (Vắng mặt)
Trú tại: số nhà 06/05, đường N, tổ 04, phường P, thành phố T, tỉnh T.
+ Anh Trần Ngọc H1, sinh năm 1978. (Vắng mặt)
Trú tại: số nhà 05, ngõ 300, đường L, tổ 12, phường K, thành phố T, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/12/2022, Trần Hữu D đang đứng tại khu vực đường N1, tổ 18, phường K, thành phố T, tỉnh T thì Lê Anh T2 đến hỏi “anh biết chỗ nào bán ma túy không”, D hỏi “mua bao nhiêu”, T2 nói “bán cho em 200.000 đồng”, D nói T2 đứng chờ, sau đó điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias màu đen tím biển số 17B7-046.26 đến khu vực đường L1, tổ 02, phường H2, thành phố T gặp và mua của một người nam giới khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng, D cất gói ma túy vào túi áo khoác bên phải rồi điều khiển xe mô tô về chỗ T2 đang đứng chờ, D dẫn T2 vào ngõ 162, đường N1, tổ 18, phường K, thành phố T, tỉnh T. Tại đây, T2 đưa cho D 200.000 đồng, D nhận tiền cầm ở lòng bàn tay trái và lấy từ túi áo khoác bên phải của D 01 gói ma túy đưa cho T2, T2 nhận gói ma túy cất vào túi áo khoác bên trái của T2 thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Tiến V1 và anh Trần Ngọc H1, T2 đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận là ma túy T2 vừa mua của D với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân, D tự giác giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng là tiền D vừa bán ma túy cho T2 mà có, kiểm tra thu tại túi quần bên trái của D 01 điện thoại Iphone 7 plus màu vàng trắng, thu tại túi quần sau bên phải 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Hữu D và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn Bé. Kiểm tra người T2 và xe mô tô của D không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hữu D, kết quả không phát hiện, thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 478/KL-KTHS(MT) ngày 20/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Lê Anh T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,0554 gam (Không phẩy không nghìn năm trăm năm mươi tư gam).
Bản Cáo trạng số 48/CT-VKSTPTB ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Hữu D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hữu D mức án từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Phạt bổ sung bị cáo từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 478/KL-KTHS(MT). Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 200.000 đồng do phạm tội mà có.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 7 plus màu vàng trắng đã qua sử dụng, 01 ví giả da màu đen, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Hữu D nhưng quản lý điện thoại để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 19/12/2022, tại khu vực ngõ 162, đường N1, tổ 18, phường K, thành phố T, tỉnh T, Trần Hữu D đã có hành vi bán trái phép 0,0554 gam ma túy, loại Heroine cho Lê Anh T2 lấy 200.000 đồng.
Hành vi trên của Trần Hữu D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự:
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi của Trần Hữu D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đã từng bị kết án về các hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Trần Hữu D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bản án số 90/2012/HSST ngày 08/6/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
Bị cáo Trần Hữu D bán ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu vàng trắng, 01 ví giả da màu đen, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Hữu D là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias màu đen tím biển số 17B7
- 046.26 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn Bé. Năm 2022 anh Bé đã bán chiếc xe trên cho chị Trần Lê D1, sinh năm 1983, trú tại: số nhà 30, ngõ 02, đường H, tổ 04, phường Q, thành phố T, tỉnh T (là em gái của bị cáo Trần Hữu D) nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 19/12/2022, D mượn xe mô tô trên của chị D1 đi, chị D1 không biết D sử dụng chiếc xe để đi bán ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị Trần Lê D1.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực đường L1, tổ 02, phường H2, thành phố T, tỉnh T nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với Lê Anh T2 có hành vi mua ma túy của Trần Hữu D, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bản thân T2 chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 Bộ luật Hình sự, khối lượng ma túy thu giữ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Công an thành phố Thái Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 bằng hình thức phạt tiền.
Về án phí: Bị cáo Trần Hữu D thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hữu D 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 19/12/2022).
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3.Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 478/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu vàng trắng đã qua sử dụng, 01 ví giả da màu đen, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Hữu D.
(Các vật chứng, tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/3/2023).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Hữu D.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 03/4/2023. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lý |