- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Mã Văn C 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 01-06-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Kim Lệ
2. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Võ Kế Út
- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Mã Văn C; Giới tính: Nam; Sinh năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B274 (số mới 648) Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: B274 (số mới 648) Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Mã Văn T, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V (đã chết); Hoàn cảnh gia đình: Có 03 người anh; V1, con: Chưa có.
Tiền sự: Không
Tiền án: Không
Nhân thân:
Ngày 15/7/2010 bị Công an xã B, huyện B ra Quyết định xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị can đã nộp tiền phạt.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022 đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mã Văn C là đối tượng nghiện ma túy nên vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21/12/2022, C điều khiển xe đạp từ nhà đến hẻm G N, Phường A, Quận D để mua ma túy sử dụng. Khi đến hẻm G N, C nhìn vào khe cửa rào của một căn nhà bên tay trái đầu hẻm thấy một người phụ nữ đang đứng, C đưa 200.000 đồng mua ma túy. Người phụ nữ nhận tiền xong ném 02 đoạn ống nhựa màu xanh chứa ma túy qua khe cửa rào cho C, C nhặt lấy cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái của C đang mặc rồi đạp xe đi tìm chỗ để sử dụng. Khi đến trước nhà số B N, Phường A, Quận D thì bị Công an P, Quận D kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 29/12/2022 của Phòng K Công an T1 kết luận: chất bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa màu xanh thu giữ của Mã Văn C có khối lượng 0,1577 gam ma tuý ở thể rắn, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra Công an Q, Mã Văn C khai nhận người bán ma túy cho mình là bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1964, địa chỉ: G N, Phường A, Quận D. Quá trình điều tra không có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Kim H đã bán ma túy cho Mã Văn C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý bà H.
Vật chứng vụ án:
- 02 đoạn ống nhựa màu xanh chứa ma tuý thu giữ của Mã Văn C còn lại sau giám định.
- 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng (đã qua sử dụng).
Tại Bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 05/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Mã Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Mã Văn C thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 05/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Mã Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, số lượng ma túy tàng trữ ít. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Mã Văn C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù;
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh chứa ma túy thu giữ của bị cáo Mã Văn C còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe đạp màu hồng (đã qua sử dụng).
Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Mã Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21/12/2022, tại trước nhà số B N, Phường A, Quận D, Công an P, Quận D phát hiện bắt quả tang Mã Văn C đang cất giấu 0,1577 gam ma tuý ở thể rắn, loại Heroine để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Mã Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, số lượng ma túy tàng trữ ít nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Để có tác dụng giáo dục và răn đe, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm cần có mức án tương xứng để xử phạt.
. Về xử lý vật chứng:
- 02 đoạn ống nhựa màu xanh chứa ma túy thu giữ của bị cáo Mã Văn C còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng (đã qua sử dụng) là phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước .
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Mã Văn C 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh chứa ma túy thu giữ của bị cáo Mã Văn C còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng (đã qua sử dụng).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/4/2023 giữa Công an Q với Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4).
- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| - Bị cáo; (1) - CA TP.HCM (PV 06); (2) - TAND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - VKSND Quận 4; (2) - Công an Quận 4; (2) - Chi cục THADS Quận (1) 4; (2) - Lưu VT, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tần Quốc Bình |