vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Tô Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại Tô Thị T số tiền 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án phí hình sự; tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các vỏ bao bì của mẫu vật. Theo Biên bản gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Thị T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Tô Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS-ST
Ngày 11-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Chính

Ông Lã Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hữu Hảo, Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đại Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân quận K, thành phố H; điểm cầu thành phần: Trại tạm giam thành phố H; xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Tô Thị T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 23/6/1981; giới tính nữ; nơi sinh: H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E phường L, quận K, thành phố H; nơi ở: Phòng trọ số P, nhà số A đường Đ, phường Đ, quận K, thành phố H. Dân tộc Kinh, quốc tịch Việt Nam, tôn giáo: Không, nghề nghiệp: Tự do, trình độ văn hoá 12/12.Con ông Tô Anh T, sinh năm 1948; con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1948; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út ; chồng bị cáo là Lê Hoàng H, sinh năm 1980; bị cáo có 2 con: Tô Hải Y, sinh năm 2002 và Lê Việt H, sinh năm 2006. Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/02/2023 đến ngày 08/3/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 28/02/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tô Thị T đã một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: X đi đến khu vực D T, Quận L, thành phố H gặp và hỏi mua của một người phụ nữ không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy đá, T cất giấu túi ma túy vào túi quần bên trái phía trước rồi điều khiển xe mô tô đi để tìm chỗ sử dụng. Khi T đi đến khu vực đầu ngõ V đường L, phường Q, quận K, thành phố H thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K phát hiện, kiểm tra thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của T 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa 01 túi nilon kích thước 2 x 1,5cm, trong tùi ni lon có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của T số tiền 280.000 đồng và 01 xe mô tô, biển kiểm soát: Y.

Ngày 28/02/2023 Phòng kỹ thuận hình sự Công an thành phố H lập biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử đối với Tô Thị T, kết quả: “dương tính với chất ma túy Methamphetamine”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K khám xét khẩn cấp nơi ở của Tô Thị T tại phòng trọ số 05, nhà số 6/442 đường Đồng Hòa, phường Đ, quận K, thành phố H. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.

Tại bản kết luận giám định số 213/KL-KTHS(MT) ngày 06/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận: “ Tinh thể màu trắng thu giữ của Tô Thị T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,25 gam, loại: Methamphetamine”.

Tại Cơ quan điều tra Tô Thị T khai nhận phù hợp nội dung trên. Mục đích T cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2021, loại ma túy thường sử dụng là ma túy đá. Lần gần nhất T sử dụng ma túy trước thời điểm bị bắt khoảng một tuần nhưng T không nhớ chính xác thời gian, địa điểm đã sử dụng ma túy. Số tiền 280.000 đồng là số tiền do T lao động mà có. Nguồn gốc xe mô tô, biển kiểm soát: X, T mượn của bạn là anh Trần Đức T (sinh năm 1971; trú tại: Tổ H Đ, quận H, thành phố H). Khi mượn xe, T nói với Đức T mượn xe để đi làm. Đức T không biết T mượn xe để đi mua ma túy.

Ngày 07/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Tô Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng số 42/CT-VKSKA ngày 29/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H truy tố bị cáo Tô Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tô Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Tô Thị T từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tô Thị T. Xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, các vỏ bao bì của mẫu vật; trả lại Tô Thị T số tiền 280.000 đồng; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô, biển kiểm soát: X cho anh Đức T để quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của Viện Kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận K thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Tô Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Tô Thị T có hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của Tô Thị T đã vi phạm Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Với việc cất giữ trái phép 0,25 gam ma túy, loại Methamphetamine, Tô Thị T đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) … Methamphetamine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận K đã truy tố Tô Thị T ra trước Toà án nhân dân quận K để xét xử về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xử phạt Tô Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với một mức án nghiêm khắc và cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

- Đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, với những quy định nghiêm ngặt bởi chất ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm; vi phạm quy định về quản lý chất ma túy không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước mà còn tạo ra lớp người nghiện, qua đó đe dọa nghiêm trọng đến an toàn xã hội, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển bình thường của giống nòi Việt Nam và đây cũng là nguồn gốc phát sinh những loại tội pháp khác. Vì vậy pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Tô Thị T:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tô Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tô Thị T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của Tô Thị T tại phiên tòa cho thấy Tô Thị T không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Tô Thị T.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tô Thị T trước thời điểm bị bắt 01 tuần: Do T không nhớ được chính xác thời gian, địa điểm sử dụng do vậy không đủ căn cứ xử lý.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho T ở khu vực ngõ X T, Quận L, thành phố H vào chiều ngày 28/02/2023: Hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

- Vật chứng của vụ án:

Vật chứng của vụ án gồm: Số ma túy còn lại sau giám định, các vỏ bao bì của mẫu vật, số tiền 280.000 đồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát X.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các vỏ bao bì của mẫu vật là dụng cụ cất giữ ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 280.000 đồng là tiền của Tô Thị T lao động mà có, không liên quan đến vụ án, trả lại cho Tô Thị T.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát X: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã xác định chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát X là anh Trần Đức T (sinh năm 1971; trú tại: Tổ Y, phường Đ, quận H, thành phố H) và đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô, biển kiểm soát X cho anh Đức T, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo Tô Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại Tô Thị T số tiền 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án phí hình sự; tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các vỏ bao bì của mẫu vật. Theo Biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự quận K, thành phố H.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Tô Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Tô Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ