- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàng Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phàng Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày 28 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Tiến Hiệt
Bà Mùa Thị Mỷ
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên toà: bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 07 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phàng Thị T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 5 năm 1969, tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: bản D, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phàng A L và bà Mùa Thị D; bị cáo có chồng và 08 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/01/2018 bị Tòa án nhân dân Y, tỉnh Sơn La xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 08/5/2019 Phàng Thị T chấp hành án xong (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/03/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch: Ông Mùa A Dơ. Trú tại: Tiểu khu 1, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Bá Linh - Luật sư, cộng tác viên trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Sơn La. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 06 giờ 10 ngày 22/3/2023 tại bản D, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Y phát hiện và bắt quả tang đối với Phàng Thị T sinh năm 1969, trú tại: bản D, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm phát hiện và thu giữ 01 gói giấy bạc bên trong có 01 gói nilon xanh chứa chất cục bột màu trắng nghi là Heroin do Phàng Thị T lấy trong túi áo khoác bên phải mặc tự giác giao nộp.
Ngày 22/3/2023 Công an huyện Y phối hợp với phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng và trích mẫu gửi giám định đối với số ma túy thu giữ của Phàng Thị T, kết quả: toàn bộ chất cục bột màu trắng đựng trong túi nilon màu xanh có khối lượng là 0,1 gam, trích toàn bộ gửi trưng cầu giám định, ký hiệu T.
Tại kết luận giám định số 640/KLMT ngày 23/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam.
Quá trình điều tra bị cáo Phàng Thị T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 21/3/2023, Phàng Thị T đi bộ từ bản D, xã M, huyện Y theo đường liên bản giữa bản D và bản Tà Phềnh, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La để lấy rau cho lợn ăn. Khi Tra đến khu vực bản Tà Phềnh, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu thì gặp 1 người phụ nữ dân tộc Mông không rõ họ tên và địa chỉ, Tra nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng nên hỏi người phụ nữ có ma túy bán không? Người phụ nữ trả lời có và hỏi Tra muốn mua bao nhiêu? Tra hỏi mua 50.000đ, người phụ nữ nhận tiền và đưa cho Tra 01 gói giấy bạc bên trong có 01 gói nilon xanh chứa các cục bột màu trắng. Tra nhận gói ma túy và cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc trên người rồi quay về nhà theo đường cũ. Về đến nhà Tra mở gói ma túy ra lấy một ít ra sử dụng bằng hình thức đốt, hít. Số ma túy còn lại Tra gói lại như cũ rồi rồi cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc trên người. Đến khoảng 06 giờ ngày 22/3/2023 khi Tra đang ở nhà thì Tổ công tác Công an huyện Y đến xét nghiệm ma túy, Tra khai nhận vừa sử dụng ma túy và tự giác lấy gói ma túy trong túi áo khoác bên phải nộp cho tổ công tác.
Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSYC ngày 19/06/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Y để xét xử bị cáo Phàng Thị T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như bản Cáo trạng truy tố, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phàng Thị T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng thấp, có 01 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy những mẫu còn lại sau giám định gồm: 01 phong bì giấy niêm phong mặt trước ghi: “ Vật chứng vụ: Phàng Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu”.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu luận cứ bào chữa cho bị cáo với nội dung nhất trí với bản cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phàng Thị T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, đề nghị HĐXX căn cứ vào nguyên nhân, mục đích động cơ phạm tội, hành vi trách nhiệm hình sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng thấp, chỉ đủ khởi điểm của khung hình phạt, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ, trình độ nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 52 BLHS cho bị cáo hưởng mức hình phạt từ 16 đến 18 tháng tù, được miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/3/2023, biên bản niêm phong vật chứng ngày 22/3/2023, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 22/3/2023, Kết luận giám định số 640/KLMT ngày 23/3/2023, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/3/2023, bị cáo Phàng Thị T có hành vi mua ma túy của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết với giá 50.000 đồng và cất giấu túi áo khoác bên phải đang mặc trên người với mục đích để sử dụng cho bản thân, sau khi về nhà Tra đã lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng hình thức đốt hít rồi giấu số ma túy còn lại vào túi áo khoác bên phải đang mặc trên người thì bị phát hiện và bắt giữ, thu giữ 0,1 gam loại Heroine.
Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố và Tòa án nhân dân huyện Y xét xử bị cáo Phàng Thị T là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp tài sản, giết người, lây nhiễm bệnh HIV.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 30/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Y xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 08/5/2019 (đã được xóa án tích).
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, không có công việc ổn định, là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không biết chữ, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, khi bị phát hiện hành vi phạm tội đã tự giác giao nộp ma túy cho tổ công tác Công an huyện Y, khối lượng tàng trữ ít. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu đã 01 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng sau khi chấp hành hình phạt không ăn năn hối cải, lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với số vật chứng liên quan bao gồm: Vật chứng vụ: Phàng Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. mặt sau phong bì có số hiệu 034932, xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông, bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nơi trao đổi mua bán ma túy diễn ra tại khu vực bản Tà Phềnh, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên, đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Phàng Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Phàng Thị T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng liên quan bao gồm: Vật chứng vụ: Phàng Thị T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 39/BB-CCTHADS ngày 19/6/2023 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phàng Thị T.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 28/7/2023 theo quy định của pháp luật ./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Sơn La;
- VKSND huyện Y;
- Công an huyện Y;
- Trại giam;
- THA hình sự ;
- CCTHA Dân sự;
- Sở TP;
Cầm Thị Thanh Huyền
- Bị cáo; Người tham gia TT
- Lưu: hồ sơ, án văn.
Hội thẩm
Hội thẩm
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Cầm Thị Thanh Huyền
Hội thẩm
Hội thẩm
Thẩm phán - Chủ tọa
phiên tòa
Cầm Thị Thanh Huyền
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Y; - Công an huyện Y; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo; Người tham gia TT - Lưu: hồ sơ, án văn. Hội thẩm Hội thẩm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Cầm Thị Thanh Huyền |