- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Thị Kim N tội "Đánh bạc" khoản 1 Điều 321 BLHS 2015 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 16/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Danh Vượng.
Bà Ngô Thị Quốc Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa:
Ông Cù Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Thị Kim N, sinh năm: 1965 tại Quảng Trị;
HKTT: Ấp 4B, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần H (đã chết) và bà Lê Thị K (đã chết); bị cáo có chồng tên Nguyễn Y K1 (đã chết), có 03 con, lớn nhất sinh năm 1987 nhỏ nhất sinh năm 1999;
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo được tại ngoại: Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
“Bị cáo có mặt”.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Phan Thị H1, sinh năm: 1961; nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 08/12/2022, Trần Thị Kim N, sinh năm1965, trú tại ấp D, xã T, X, Bà Rịa - Vũng Tàu đang bánnước tại chợ T1 thuộc ấp D, xã T, huyện X, tỉnh BàRịa - Vũng Tàu thì có một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) đến quán uốngnước. Một lát sau, người thanh niên trên đi lại quầy thoả thuận với N muốnđánh bạc dưới hình thức ghi số đề, N đồng ý. Người thanh niên đưa choNga 01 tờ giấy và số tiền 500.000 đồng, N giữ lấy và đem ra một tờ giấytrắng để sao số đưa lại cho người này, trong lúc đang sao số đề thì C anxã T đến phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thugiữ vật chứng gồm 01 mảnh giấy trắng dùng để sao số (phơi đề), có kíchthước 5,4cm x 6,4cm và 01 tờ giấy có ghi nội dung: “bao lô 19, 10 ngàn, đầuđuôi 19, 25 ngàn đầu, 35 ngàn đuôi” có kích thước 4,8cm x 8,4cm; số tiền500.000 đồng; 01 cây viết bi màu xanh, hiệu Thiên Long; thu giữ trên ngườiNga số tiền 3.080.000 đồng là tiền ghi đề. Qua kiểm tra, phát hiện trongtúi áo khoác của N có 01 tờ giấy A4 được chia làm 05 phần dọc theo tờ giấy, trên giấy ghi những con số đề (Bút lục 34).
Về hình thức đánh bạc: Ngày 08/12/2022, N ghi đề cho khoảng 07người (không rõ nhân thân) với hình thức cá cược được quy ước là căn cứ kếtquả mở thưởng của 02 đài xổ số tỉnh Tây Ninh (đài chính) và đài xổ số tỉnh An Giang (đài phụ) cùng mở kết quả vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2022. Kết quả xác định trúng đề như sau: số đầu căn cứ vào 02 số trúng thưởng của giải 8 và số đuôi căn cứ vào 02 số cuối cùng của dãy số đặc biệt, tỷ lệ thắng thua của hai hình thức này là 1/70 lần; Xỉu chủ đầu căn cứ vào 03 số trúng của giải 7 và xỉu chủ đuôi căn cứ vào 03 số cuối của dãy số trúng giải đặc biệt, tỷ lệ thắng thua của hai hình thức này là 1/600 lần; Bao lô 02 con căn cứ vào 02 con số của giải 8 và 02 số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt (18 lô), tỷ lệ thắng thua là 1/70 lần; Bao lô ba con được trúng giải theo 03 số trúng giải của giải 7 và 03 cuối của dãy số trúng giải từ giải 6 đến giải đặc biệt (17 lô), tỷ lệ thắng thua là 1/600 lần; Số đá 2 con việc thắng thua căn cứ vào 02 con số từ giải 8 đến giải đặc biệt nếu có đủ 02 con số mà người ghi đề lựa chọn là trúng giải, tỷ lệ thắng thua 1/600 lần; Khi người chơi có nhu cầu thì đến quán nước của N để ghi số, N sẽ ghi số ra giấy A4, rồi xé giấy đưa lại người ghi đề (gọi là phơi đề).
Về hành vi đánh bạc: Qua kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác củaNga có 01 tờ giấy A4 được chia làm 05 phần dọc theo tờ giấy, trên giấy ghinhững con số đề vào ngày 08/12/2022, cụ thể như sau:
Góc trên cùng, bên trái dãy thứ nhất ghi những số bao lô xì chủ nhà đài xổ số An Giang (đài phụ) mở kết quả vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2022 gồm: 836-1 (nghĩa là bao lô 1.000 đồng), ghi số như trên thì người đánh đề phải nộp cho N số tiền 13.000 đồng; 638-2; 653-2; 356-2; 635-2; 730-2; 979-2; 676-2 (nghĩa là bao lô 2.000 đồng, người đánh đề phải nộp cho N số tiền 26.000 đồng). Tổng số tiền mà người đánh số đề trả cho N là: 195.000 đồng.
Góc dưới bên trái và dãy số thứ 2 của tờ giấy A4 ghi những con số đầu đuôi và bao lô nhà đài xổ số An Giang (đài phụ) mở kết quả vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2022 gồm:
Bao lô số 43-10 đài xổ số An Giang (đài phụ), người đánh số đề phải trả cho N số tiền: 140.000 đồng.
Số đầu đuôi ký hiệu như sau: 10-35-10 (nghĩa là đánh số 35 đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng), cũng tương tự có các số sau: 10-95-10; 10-59-10; 10-80-10; 10-08-10; 10-26-10; 10-62-10; 10-74-10; 10-47-10; 10-36-10; 10- 63-10; 10-53-10; 60-75-60; 60-97-60; 24-86-24; 24-46-24; 24-06-24, 24-30- 24; 24-69-24; 24-32-24; 24-28-24; 24-67-24; 24-27-24; 24-66-24; 60-26-60; 24-25-24; 24-34-24; 24-74-24; 60-47-60; 24-07-24; 60-87-60; 24-13-24; 24- 53-24; 60-93-60; 60-35-60; 60-75-60; 24-43-24; 60-36-60; 60-76-60; 24-12- 24; 60-52-60; 60-92-60; 24-14-24; 24-54-24; 60-94-60; 24-33-24; 24-73-24; 60-37-60; 24-77-24. Tổng số tiền người đánh đề phải trả cho N là: 3.024.000 đồng.
Dãy số thứ 3,4,5 ghi những số đầu, đuôi; xỉu chủ; bao lô và số đá, nhà đài xổ số Tây Ninh (đài chính) mở kết quả vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2022, gồm:
Dãy số thứ 3 ghi số đầu, đuôi ký hiệu như sau: 24-29-24(nghĩa là đánh số 29 đầu 24.000 đồng, đuôi 24.000 đồng), cũng tương tự có các số sau: 24- 39-24; 60-79-60; 24-31-24; 60-70-60; 24-29-24; 60-72-60; 60-68-60; 24-22- 24; 60-62-60; 24-81-24; 24-41-24; 24-01-24; 60-65-60; 60-78-60; 24-38-24; 60-63-60; 60-23-60; 24-39-24; 24-79-24; 60-97-60; 24-80-24; 24-40-24; 60- 08-60; 24-48-24; 24-88-24; 60-15-60; 24-55-24; 24-95-24; 60-59-60; 24-99- 24; 60-19-60; 24-16-24; 24-56-24; 60-96-60. Tổng số tiền người đánh số đề trả cho N là: 2.760.000đ.
+ Dãy số thứ 4 ghi số đầu, đuôi xỉu chủ ký hiệu như sau: 6-563-6 (nghĩalà ghi đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng xỉu chủ 563); 12-211-12; 6-386-6; 6-286-6; 6-965-6. Tổng tiền người đánh số đề trả cho N là: 72.000 đồng.
+ Dãy số thứ 5 phần trên ghi bao lô hai con số ký hiệu như sau: 79-3(nghĩa là bao lô con số 79 với số tiền là 3.000 đồng, với 1.000 đồng phải trảsố tiền 14.000 đồng, tổng số tiền các con bạc phải trả là 42.000 đồng); 97-3;75-3; 80-3; 43-10; 38-3; 56-3; 96-3; 28-3; 68-3; 32-3; 72-3; 74-3; 47-3; 53-3;35-3; 36-3; 63-3; 93-3; 95-3; 59-3; 26-3; 62-3; 08-3; 08-3. Tổng số tiềnngười đánh số đề phải trả cho N là: 1.148.000 đồng.
+ Dãy số thứ 5 phần dưới ghi bao lô số đá có ký hiệu như sau: 56-38-2(nghĩa là đá hai con số 56-38 với số tiền 2.000 đồng, người chơi phải trả sốtiền là: 50.000đ); 72-68-2; 90-28-5; 47-63-1; 95-80-1; 59-08-2; 75-29-2.Tổng số tiền người đánh số đề phải trả cho N là: 375.000 đồng. Nhưvậy, quá trình điều tra xác định số tiền người đánh bạc dưới hình thức ghi sốđề mà Trần Thị Kim N nhận ghi vào ngày 08/12/2022, tổng là: 8.214.000 đồng.
Vật chứng thu giữ và xử lý: Số tiền 3.580.000 đồng là số tiền nghi đề;01 cây viết bi, màu xanh, hiệu Thiên Long dùng để nghi số đề; 01 điện thoạidi động hiệu S Galaxy A12 màu đen, có sim số xxxxxxxxxx; 01 điệnthoại di động hiệu mobell, có sim số xxxxxxxxxx, qua kiểm tra dữ liệu trong02 điện thoại nêu trên không phát hiện nội dung liên quan đến việc đánh bạcbằng hình thức ghi số đề, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện chờ xử lý.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.
Bản cáo trạng số 41/CT-VKS-XM ngày 12 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Trần Thị Kim N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 65; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 08 (T) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 (Mười sáu) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.
Về vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 3.580.000đ (Ba triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng);
Truy thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền bị cáo phạm tội mà có 4.634.000đ (Bốn triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A12 màu đen, 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx; 01 điện thoại di động hiệu mobell, 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây viết bi, màu xanh, hiệu Thiên Long.
- Bị cáo Trần Thị Kim N nói lời sau cùng: Bản thân bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác cũng như những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Theo đó xác định được rằng:
Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 08/12/2022 tại quầy nước của bị cáo, địa chỉ chợ T1, huyện X, lực lượng chức năng đã bắt quả tang bị cáo có hành vi ghi số đề cho một thanh niên không rõ lai lịch với số tiền 500.000đ với hình thức cá cược được quy ước là căn cứ kết quả mở thưởng 02 đài xổ số Tây Ninh (đài chính) và đài xổ số tỉnh An Giang (đài phụ) cùng mở kết quả vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2022. Quá trình điều tra xác định, trong vụ án này bị cáo là người nhận ghi số đề cho các đối tượng hiện chưa rõ nhân thân với tổng số tiền là 8.214.000 đồng với vai trò là chủ đề.
Do đó, hành vi của bị cáo nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ đó cho thấy bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Trần Thị Kim N về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nền trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng mà không phải lao động nên bị cáo đã đánh bạc với hình thức ghi lô đề để thu lợi bất chính. Hành vi đánh bạc còn có thể là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội cũng như nhiều tội phạm khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, số tiền đánh bạc không lớn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tạo cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa sai lầm, không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; và phù hợp với Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nên căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án, số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với số tiền 8.214.000đ bị cáo thu được của người đánh bạc; khi bị bắt Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 3.580.000đ (trong đó: trên người bị cáo 3.080.000đ và của người thanh niên đánh bạc là 500.000đ) số tiền này do phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại là 4.634.000đ, bị cáo đã chi tiêu hết. Đối với số tiền bị cáo đã chi tiêu không thu giữ được là tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp truy thu sung Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
+ Đối với 01 cây viết bi, màu xanh, hiệu Thiên Long là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A12 màu đen, 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx; 01 điện thoại di động hiệu mobell, 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx thu giữa của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo.
Đối với người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch đã mua số đề của bị cáo, đã bỏ trốn cũng như những người tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh đề tại nơi bán nước của bị cáo, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch, nên tách ra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Phan Thị H1, ban đầu bị cáo khai ghi số đề cho bà H1. Tuy nhiên, quá trình điều tra bà H1 không thừa nhận việc tham gia ghi số đề cùng với bị cáo. Qua kiểm tra dữ liệu 02 điện thoại của bị cáo không phát hiện nội dung liên quan đến việc đánh bạc bằng hình thức ghi số đề giữa bị cáo và bà H1, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc bị cáo ghi số đề cho bà H1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã xác nhận lại, bị cáo không ghi số đề cho bà H1 mà bị cáo là người chủ đề. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà H1 là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim N phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 65; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
+ Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim N 08 (T) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/6/2023).
Giao bị cáo Trần Thị Kim N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
Số tiền 3.580.000đ (Ba triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng);
(Hiện đang lưu giữ tại tài khoản số 3949.0.1054991.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tại Kho bạc Nhà nước huyện X theo “Giấy nộp tiền vào tài khoản” ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Công an huyện X);
Buộc bị cáo Trần Thị Kim N nộp truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền bị cáo phạm tội mà có là 4.634.000đ (Bốn triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A12 màu đen, 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx; 01 điện thoại di động hiệu mobell, 01 sim điện thoại số xxxxxxxxxx.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây viết bi, màu xanh, hiệu Thiên Long.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2023 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Trần Thị Kim N phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; + Phòng PC10; + Phòng PV06; - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND huyện Xuyên Mộc; - Công an huyện Xuyên Mộc; - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thảo |