- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG L TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 01-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG L, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trung Du
Ông Nguyễn Văn Cơ Ba
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Thư ký TAND huyện Vũng L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lưỡng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng L xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2023/TLST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị D, sinh năm 1971; giới tính: Nữ; nơi cư trú: ấp Rạch C, xã Trung C, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1944 và bà Lê Thị N (chết); chồng là Trần Minh C, sinh năm 1971; con có 02 người lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2004; anh, chị, em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo được cho tại ngoại và hiện có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Lê Phúc K (chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Trần Ngọc H, sinh năm 1993 (có mặt)
2. Lê Phúc L, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Cùng trú tại: ấp Mướp S, xã Trung H, huyện Vũng L, Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của Lê Phúc L có chị Trần Ngọc H, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp Mướp S, xã Trung H, huyện Vũng L, Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Trần Minh C, sinh năm 1971 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp Rạch C, xã Trung C, huyện Vũng L, Vĩnh Long.
- Người làm chứng:
Trần Thị Khánh Ly, sinh năm 2000 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp Mướp S, xã Trung H, huyện Vũng L, Vĩnh Long.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Vợ chồng chị Trần Ngọc H và anh Lê Phúc L có con chung tên Lê Phúc K, sinh ngày 14/3/2021. Chị H và anh L đi làm thuê ở tỉnh Tiền Giang nên gửi bé K cho mẹ ruột của chị H là Nguyễn Thị D giữ và chăm sóc.
Khoảng 14 giờ ngày 21/02/2023, D điều khiển xe môtô biển số 64D1 - 285.84 chở bé K ngồi ghế xếp phía trước, chạy đến khu vực Cầu Mai Phốp thuộc xã Trung Hiếu, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long, để gặp chị Nguyễn Thanh Tuyền, sinh năm 1992, ngụ ấp An Lạc 2, xã Trung An, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long, là bạn làm thuê chung với chị H để gửi đồ ăn lên cho chị H. Sau khi gửi xong, D điều khiển xe môtô chở bé K ngồi phía trước, lưu thông trên đường Huyện lộ 61B theo hướng đường Quốc lộ 53 đến đường Huyện lộ 61 để về nhà, vận tốc xe khoảng 30 km/giờ. Khi D điều khiển xe môtô chở bé K lưu thông đến dốc chân Cầu Sẹo thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung H, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long, thì bé K bất ngờ đứng lên, nên D dùng tay trái ôm giữ K lại. Do D chỉ điều khiển xe môtô bằng tay phải nên làm xe mất thăng bằng va chạm vào chân lan can Cầu Sẹo, làm D và xe môtô ngã văng xuống bãi cỏ dưới gầm Cầu S, bé K bị té vướng lại trên trụ lan can Cầu Sẹo. Hậu quả vụ tai nạn làm Lê Phúc K bị chấn thương nặng được đưa đến Trung tâm y tế Nguyễn Văn T, huyện Vũng L sơ cứu rồi được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long cấp cứu nhưng bé K đã tử vong sau đó.
Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn ngày 21/02/2023 xác định:
- Tai nạn xảy ra trên đường Huyện lộ 61B đoạn thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung H, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long; đoạn đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường được trãi nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ tim đường màu trắng đứt quãng, mặt đường rộng 05m. Đoạn đường nằm trong khu vực chịu tác dụng của các biển báo hiệu: P115 (tải trọng cho phép của cầu), 203a (biển báo hiệu đường hẹp hai bên), W207b (biển báo giao nhau với đường không ưu tiên).
- Chọn mép đường bên phải của hướng đường Quốc lộ 53 đến đường Huyện lộ 61 làm lề chuẩn. Chọn trụ biển báo hiệu P115 nằm trên lề phải của hướng đường Quốc lộ 53 đến đường Huyện lộ 61 làm điểm mốc cố định, điểm mốc cố định cách lề chuẩn 01m00.
- Tai nạn xảy ra để lại trên hiện trường các dấu vết, phương tiện được đánh số ký hiệu, chụp ảnh ghi nhận và mô tả chi tiết, cụ thể:
+ Vị trí số (1): là vị trí vùng va chạm giữa xe môtô 64D1 - 285.84 với chân lan can Cầu Sẹo. Vùng va chạm nằm ở điểm giao nhau giữa mặt đường và chân lan can Cầu Sẹo nằm trên phần đường lề chuẩn, vùng va chạm cách lề chuẩn là 01m00, cách điểm mốc cố định là 18m85.
- Vị trí số (2): là vị trí nón bảo hiểm của bé Lê Phúc K để lại trên đầu trụ lan can Cầu Sẹo nằm trên phần đường lề chuẩn, cách mặt cầu là 0m77, cách vùng va chạm là 01m10, cách điểm mốc cố định là 19m85. Trên đầu trụ lan can Cầu Sẹo nêu trên có 02 (hai) thanh sắt có dính chất màu nâu nghi là máu của nạn nhân K tiến hành thu giữ 02 (hai) thanh sắt nêu trên, gồm: 01 đoạn dài 06cm, đường kính 01cm và 01 đoạn dài 07cm, đường kính 01cm phục vụ giám định.
- Vị trí số (3): là vị trí xe môtô 64D1 - 285.84 ngã sau tai nạn. Xe ngã nghiêng bên trái của thân xe và nằm trên bãi cỏ dưới gầm Cầu Sẹo nằm phía bên lề chuẩn, đầu xe hướng vào lề chuẩn, đuôi xe hướng ngược lại. Tâm trục sau của xe cách điểm mốc cố định là 20m70, cách vùng va chạm là 02m30. Tâm trục trước của xe cách vùng va chạm là 02m00.
Kết luận giám định số 117/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Lê Phúc K là do bịt tắc đường hô hấp gây ngạt/ đa chấn thương vùng mặt.
- Giám định mẫu nghi là máu thu trên 02 thanh sắt đầu trụ lan can Cầu Sẹo (vị trí số 2 kết quả khám nghiệm hiện trường nêu trên) và mẫu máu của nạn nhân Lê Phúc K: Tại Kết luận giám định số 1751/KL-KTHS ngày 10/4/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an (C09) tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận dấu vết màu nâu trên 02 thanh sắt là máu người. Kiểu gen của các dấu vết máu này trùng với kiểu gen của nạn nhân Lê Phúc K.
Biên bản ngày 29/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Vũng L, Viện kiểm sát huyện Vũng L, nhận xét lỗi như sau:
Lỗi do Nguyễn Thị D điều khiển xe môtô 64D1-285.84 chở bé Lê Phúc K ngồi ghế xếp phía trước lưu thông trên đường Huyện lộ 61B theo hướng đường Quốc lộ 53 đến đường Huyện lộ 61, khi đến đoạn dốc chân Cầu Sẹo thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung H, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long, không làm chủ tay lái để xảy ra tai nạn, đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Ngoài ra, Nguyễn Thị D không giấy phép lái xe theo quy định đã vi phạm vào khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi tai nạn xảy ra, Nguyễn Thị D đã tự nguyện thỏa thuận với đại diện hợp pháp của bị hại Lê Phúc K là chị Trần Ngọc H bồi thường khắc phục hậu quả với số tiền 50.000.000 đồng. Chị H đã nhận tiền xong và không yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số: 40/CT-VKSHVL ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng L đã truy tố Nguyễn Thị D về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Thị D; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, để tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị D mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị D đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản xác định lỗi,..; Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của điều tra viên, kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, qua lời khai của bị cáo đã thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 21/02/2023, Nguyễn Thị D điều khiển xe môtô 64D1-285.84 nhưng không có giấy phép lái xe chở bé Lê Phúc K ngồi ghế xếp phía trước lưu thông trên đường Huyện lộ 61B theo hướng đường Quốc lộ 53 đến đường Huyện lộ 61, khi đến đoạn dốc chân Cầu Sẹo thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung H, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long, không làm chủ tay lái để xảy ra tai nạn, hậu quả làm cháu Lê Phúc K tử vong. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hiện nay tình trạng vi phạm giao thông và tai nạn giao thông xảy ra ngày càng nhiều, Nhà nước luôn tuyên truyền người dân phải chấp hành luật lệ, an toàn giao thông, tuy nhiên bị cáo đã điều khiển xe môtô chở theo bị hại nhưng không có giấy phép lái xe, không làm chủ được tay lái va chạm vào chân lan can cầu, hậu quả làm bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo đã gây ra cái chết cho một người. Do đó, đối với bị cáo cần có hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo và ngăn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải; đại diện bị hại đã nhận xong bồi thường và có đơn yêu cầu bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo có công với cách mạng, nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Do đại diện bị hại đã nhận bồi thường xong và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Do đó, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị D: 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/8/2023.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Trung C, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long, cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chịu thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện bị hại đã nhận bồi thường xong và không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Long; - Viện kiểm sát huyện Vũng L; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long; - Công an huyện Vũng L; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng L; - Bị cáo; UBND xã Trung C; - Đại diện bị hại; người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | Triệu Quốc Hiếu |