vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 13/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tố tụng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị B , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị B 12 (Mười hai) tháng tù. Khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ 09 (Chín) ngày (Từ ngày 06/02/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Thị Bâu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tố tụng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 44/2023/HS-ST
Ngày: 13- 6- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Dưỡng; Bà Vì Thị Thủy.

- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST- HS ngày 11 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/QĐXXST- HS ngày 29/5/2023 đối với bị cáo:

Vàng Thị B, tên gọi khác: Không, giới tính: Nữ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988, tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H , xã M , huyện S , tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn, đảng: Không; Số CCCD: 014188007803; con ông: Vàng A C (đã chết); con bà Giàng Thị D ; chồng là: Ly A V , sinh năm 1981; có 06 người con; tiền án, tiền sự: Không có; Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023. Ngày 15/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt.

NỘI DỤNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01/2/2023, Vàng Thị B , đi bộ một mình từ nhà đến khu rừng phía sau nhà để lấy củi thì mua được 01 cục thuốc phiện và 02 viên ma túy tổng hợp với số tiền 50.000 đồng của một người không quen biết, mua được ma túy B mang về nhà cất giấu, đã sử dụng hết 01 viên ma túy tổng hợp và số thuốc phiện. Đến khoảng 17 giờ ngày 06/2/2023 B lấy viên ma túy còn lại ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật là 01 viên ma túy tổng hợp và 01 bàn đèn tự chế.

Ngày 07/2/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định, vật chứng là 01 viên ma túy tổng hợp của B có khối lượng 0,11 gam, đã sử dụng hết làm mẫu gửi giám định, ký hiệu B.

Bản kết luận số 336/KL- KTHS ngày 8/2/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,11 gam, tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSSC ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Vàng Thị B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố Vàng Thị B. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, n khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Vàng Thị B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư đã được niêm phong kín, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ly non màu xanh đựng ban đầu, 01 bộ bàn đèn tự chế.

Về nguồn gốc 0,11 gam ma túy là Methamphetamine bị cáo B khai mua được của một người không quen biết, không biết tên và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý người đã bán ma túy cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự; để xét xử vụ án vắng mặt bị cáo.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 06/2/2023 Vàng Thị B đã Tàng trữ 0,11 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 17 giờ 10 phút ngày 06 tháng 2 năm 2023; Biên bản niêm phong, cân tịnh vật chứng ngày 07/2/2023, kết luận giám định số 336 ngày 08/2/2023, lời khai của người chứng kiến, vật chứng của vụ án là 0,11 gam ma túy, loại Methamphetamine, lời khai nhận của bị cáo.

Từ các căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vàng Thị B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ

2 luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp đã truy tố đối với bị cáo B là có căn cứ.

Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo Vàng Thị B đã Tàng trữ trái phép 0,11 gam ma túy là nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó đã gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người nghiện chất ma túy, trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự

Tình tiết tăng nặng: Không có

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội khi đang mang thai, nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy là nhà nước cấm, nhưng do coi thường pháp luật nên cố ý phạm tội; Xét luận tội của Viện kiểm sát huyện Sốp Cộp. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ; Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị về hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp và cần phải phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

Bị cáo Vàng Thị B đang nuôi con nhỏ dưới 02 tháng tuổi, hiện đang tại ngoại, cần tiếp tục cho bị cáo tại ngoại.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo qui định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là hộ nghèo, không có tài sản, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại là 01 phong bì thư đã được niêm phong kín, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh linon màu xanh đựng ban đầu, 01 bộ bàn đèn tự chế không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số, nơi cư trú ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tố tụng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bị cáo.

3

2. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị B , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị B 12 (Mười hai) tháng tù. Khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ 09 (Chín) ngày (Từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023) thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 11 (Mười một) tháng 21 (Hai mươi mốt ngày) tính từ ngày vào trại để chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư đã được niêm phong kín, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh linon màu xanh đựng ban đầu, 01 bộ bàn đèn tự chế; Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/5/2023 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

5. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Vàng Thị B không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án.

Cỡ chữ