vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lìu Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Về hình phạt: Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lìu Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS- ST
Ngày: 28/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Vư – Ông Đèo Văn Vĩnh

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Ông Lê Sỹ Hiếu - Kiểm sát viên

Ngày 28/4/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST - HS, ngày 23/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST - HS ngày 17/4/2023 đối với bị cáo:

Lìu Văn C (Tên gọi khác: Không); sinh năm: 1973; nơi sinh: Huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT: Bản Nà Củng, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Ông Lìu Văn Páy, sinh năm: 1933, mẹ đẻ bà Thùng Thị Khim, sinh năm: 1936; bị cáo có vợ Đèo Thị Nề sinh năm 1975 và có 02 con; con lớn nhất sinh năm: 1999, con nhỏ nhất sinh năm: 2005; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2022 đến ngày 09/12/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đèo Thị Nề, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Bản Nà Củng, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 30/11/2022, Lìu Văn C điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát (BKS): 25B1-014.95 của gia đình, đi đến địa phận thôn Tây An, xã Mường So tìm mua Heroine mục đích để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Tây An, xã Mường So thì nhìn thấy một người đàn ông dân tộc giáy không quen biết, Lìu Văn C hỏi người đàn ông này có Heroine không để mua, qua trao đổi thì C đưa cho người đàn ông đó số tiền 100.000 đồng. Người đàn ông đó cầm tiền đi về phía bản Huổi Sen, xã Mường So huyện Phong Thổ, khoảng 10 phút sau người đàn ông đó quay lại đưa cho C 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh trị giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine C giấu vào túi quần bên trái đang mặc trên người và điều khiên xe máy đi về nhà, đi được khoảng 100 m thì bị lực lượng Công an xã Mường So huyện Phong Thổ phát hiện, bắt quả tang và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với C, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã tiến hành mở niêm phong và cân tịnh 01 mẫu chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lìu Văn C có khối lượng 0,13 gam. Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ 0,13 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục của C gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 907/KL-KTHS ngày 05/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroin”.

Vật chứng còn lại của vụ án là: 01 vỏ phong bì cũ; 01 xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát (BKS): 25B1-014.95 hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.

Bản cáo trạng số: 10/CT - VKSPT ngày 23/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Lìu Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lìu Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật hình sự; ; Điểm c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì cũ; Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát (BKS): 25B1-014.95, bị cáo dùng làm công cụ phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 30/11/2022, tại khu vực Thôn Tây An, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Công an xã Mường So đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lìu Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ 01 gói ma túy. Kết quả giám định 01 gói chất bột màu trắng kết luận là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,13 gam. Như vậy Lìu Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,13 gam Heroine.

Xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy nên mục đích mua ma túy về sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,13 gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật, nên cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự

[7] Về vật chứng: 01 vỏ phong bì cũ cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát (BKS): 25B1-014.95, bị cáo dùng làm công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đề nghị bị cáo nộp 01 Giấy đăng ký xe mô tô số 001059 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ để xử lý vật chứng theo quy định.

[8] Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch ở đâu, nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số: 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lìu Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

1. Về hình phạt:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38

- Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lìu Văn C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 30/11/2022 đến ngày 09/12/2022). Thời hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật hình sự và ; Điểm c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì cũ.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát (BKS): 25B1-014.95. (Đề nghị bị cáo nộp 01 Giấy đăng ký xe mô tô số 001059 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ để xử lý vật chứng theo quy định).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu. Nơi nhận:

Cỡ chữ