- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử lý
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 31/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Trần Văn Nghi
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa:Ông Trương Minh Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2023/TLST-HS ngày 14/08/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 17/08/2023 đối với bị cáo:
Hoàng Thị H; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1973; Nơi sinh: huyện Y, tỉnh T1 Hoá; ĐKHKTT và cư trú hiện nay: Xóm 1, xã H, huyện K, Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 6/12
Bố đẻ: Hoàng Đình Đ, sinh năm: 1932; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1934. Hiện bố và mẹ già yếu và trú tại xã Y, huyện Y, tỉnh T1 Hoá; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ bảy; Chồng: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1966. Hiện là lao động tự do và trú tại: Xóm 1, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/5/2023 đến ngày 12/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phạm Văn L, sinh năm 1980, địa chỉ: xóm 5, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987, địa chỉ: phố N, thị trấn P, huyện K (vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988, địa chỉ: xóm 2, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt).
- Người làm chứng: anh Ninh Thành H1, anh Phạm Văn T1, ông Nguyễn Văn C ( đều vắng mặt trừ ông C ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân nên Hoàng Thị H nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ để bán kiếm lời. Ngày 04/5/2023, Hoà đã 02 lần bán ma tuý cho Phạm Văn L, sinh năm 1980, trú tại xóm 5, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 5/2023, Hoàng Thị H đi bộ ra khu vực đường vanh đai thuộc xóm 1, xã H, huyện K. Tại đây H gặp và mua được của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 1.000.000 đồng rồi mang về nhà chia thành 04 gói nhỏ với mục đích bán lại kiếm lời. Buổi trưa ngày 04/5/2023, Phạm Văn L và Nguyễn Văn K, sinh năm 1987, trú tại phố N, thị trấn P, huyện K rủ nhau góp tiền mua ma tuý sử dụng (L góp 300.000 đồng, K góp 200.000 đồng). Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nhà H, K đứng ngoài cổng còn L đi vào gian phòng khách gặp H. Tại đây L đưa cho H số tiền 500.000 đồng và nhận lại 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Sau đó L mang gói ma tuý ra chia cho K một phần rồi cả hai tự tìm nơi sử dụng hết. Số tiền 500.000 đồng bán ma tuý H đã tiêu xài vào mục đích cá nhân.
- Lần thứ hai: Buổi tối ngày 04/5/2023, Phạm Văn L và Nguyễn Văn K tiếp tục rủ nhau góp tiền chung mua ma tuý để sử dụng (L góp 300.000 đồng, K góp 100.000 đồng) và hẹn gặp nhau tại nhà cổng H. Hồi 18 giờ 55 phút cùng ngày, cả hai đến điểm hẹn, sau đó L đi vào trong sân hỏi mua của H 400.000 đồng ma tuý, loại Heroine thì H đồng ý. Khi H đang cầm 02 gói ma tuý, đều gói ngoài bằng giấy màu trắng, có dòng kẻ đi ra sân để bán cho L thì bị Công an huyện K kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: thu giữ trên tay trái của H 02 gói nhỏ, đều gói ngoài bằng giấy màu trắng, có dòng kẻ, cùng kích thước (1,5x1)cm, bên trong có chứa chất cục dạng bột màu trắng niêm phong ký hiệu “Q”. Thu giữ của Phạm Văn L 01 điện thoại di động Samsung màu xanh, không lắp sim và số tiền 300.000 đồng. Kiểm tra bên trong chiếc điện thoại thu giữ có 01 tệp tin video ghi hình nội dung mua bán ma túy giữa H và L vào buổi trưa ngày 04/5/2023. Tệp tin trên được sao trích vào 01 đĩa DVD-R niêm phong theo quy định của pháp luật.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Thị H, Cơ quan công an thu giữ tại chiếu cói trải trên nền phòng khách 01 gói nhỏ, gói ngoài bằng giấy màu bạc, kích thước (1x0,5)cm niêm phong ký hiệu “K”. Ngoài ra còn thu giữ 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, có in chữ POKET SCALE; 01 kéo kim loại có phần tay cầm bọc cao su màu đỏ; 01 dao lam; 02 mảnh giấy bạc kích thước (7x7)cm; 04 mảnh giấy bạc kích thước (5x5)cm.
Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng có trong 02 gói nhỏ thu giữ ký hiệu “Q” có tổng khối lượng là 0,27 gam, ký hiệu M1; chất bột dạng cục màu trắng có trong 01 gói nhỏ thu giữ ký hiệu “K” có khối lượng là 0,08 gam ký hiệu M2. Đồng thời tiến hành gửi các mẫu M1, M2 và 01 tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R đi trưng cầu giám định.
Bản kết luận giám định số 367/KL-KTHS-MT ngày 12/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2688 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0801 gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong hai mẫu ký hiệu M1, M2 là 0,3489 gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma tuý loại Heroine”.
Kết luận giám định số 566/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 10/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định”.
Xử lý vật chứng trong quá trình điều tra xác định 01 điện thoại Samsung màu xanh, không lắp sim là tài sản của anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988, trú tại xóm 2, xã Đ, huyện K nhờ Phạm Văn L bán hộ. Anh L1 không biết việc L sử dụng điện thoại quay lại hình ảnh mua bán ma túy. Do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L1 chiếc điện thoại trên. Anh L1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Chuyển từ kho vật chứng Công an huyện K đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K các vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 367/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,2087 gam, M2 = 0,0390 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 mảnh giấy màu bạc, 02 vỏ phong bì niêm phong thu giữ ban đầu; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, có in chữ POKET SCALE; 01 kéo kim loại có phần tay cầm bọc cao su màu đỏ; 01 dao lam; 02 mảnh giấy bạc kích thước (7x7)cm; 04 mảnh giấy bạc kích thước (5x5)cm; 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu “Đ” khi tạm giữ điện thoại và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T” khi thu giữ tiền của L. Đồng thời chuyển từ tài khoản của Công an huyện K đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện K số tiền 300.000 đồng để giải quyết cùng vụ án.
01 phong bì niêm phong ghi số 566/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 10/7/2023 bên trong có 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 video thể hiện việc mua bán ma túy vào ngày 04/5/2023 được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 11/08/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Hoàng Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Thị H từ 5 năm 6 tháng đến 5 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2023.
- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 và Điều 136 BLHS năm 2015 và Nghị quyết 326/UBTVQH14:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 367/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,2087 gam, M2 = 0,0390 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ
+ Tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly màu đen có in chữ POCKET SCALE; 01 kéo kim loại có phần tay cầm bọc cao su màu đỏ, 01 dao lam, 02 mảnh giấy bạc kích thước (7x7)cm; 04 mảnh giấy bạc kích thước (5x5)cm; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “Đ” khi tạm giữ điện thoại và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T” khi thu giữ tiền của L.
+ Trả lại cho Phạm Văn L số tiền 300.000đ
+ Truy thu từ bị cáo số tiền 500.000đ sung ngân sách nhà nước
+ Tiếp tục quản lý 01 phong bì niêm phong ghi số 566/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 10/7/2023 bên rong có 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 video thể hiện việc mua bán ma túy vào ngày 04/5/2023 đã được chuyển theo hồ sơ vụ án.
+ Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị H khai nhận: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên Hoàng Thị H nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ để bán kiếm lời. Trong ngày 04/5/2023 tại nhà ở của bị cáo đã 02 lần bán ma tuý: lần thứ nhất khoảng 11 giờ 30 phút, bán cho Phạm Văn L một gói với giá 500.000đ; lần thứ hai lúc 18 giờ 55 tiếp tục bán cho Phạm Văn L 02 gói ma tuý, nhưng chưa kịp bán thì bị Công an huyện K kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa còn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Được chứng minh tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an huyện K lập hồi 19h giờ 00 phút tại trụ sở công an xã H; lời khai của người liên quan; lời khai của người làm chứng, vật chứng là 02 gói ma túy, có khối lượng 0,3489gam đã được kết luận giám định số 367/KL-KTHS-MT ngày 12/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình xác định là heroin.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/5/2023 tại nhà ở của mình thuộc xóm 1, xã H, huyện K, Hoàng Thị H có hành vi bán 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 500.000 đồng cho Phạm Văn L. Hồi 18 giờ 55 phút cùng ngày, cũng tại địa điểm trên, H đang mang theo người 02 gói ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,2688 gam để bán cho L với giá 400.000 đồng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra H còn cất dấu tại nơi ở của mình 0,0801 gam ma túy, loại Heroine để bán cho người khác nhằm thu lời bất chính. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:….
b) Phạm tội 02 lần trở lên;….
Căn cứ hành vi của bị cáo Hoàng Thị H, Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “phạm tội từ 02 lần trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng tính chất mức độ phạm tội.
Về hình phạt đối với bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác; hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.
Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.Tình tiết giảm nhẹ: ngay sau khi bị phát hiện hành vi bán hê ro in cho L hồi 18h giờ 55 phút ngày 04/05/2023, bị cáo H đã chủ động khai nhận hành vi bán hê ro in cũng cho L vào hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày khi hành vi này chưa bị phát hiện là tình tiết là tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 BLHS; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo còn là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh chồng đau yếu, không lao động được, hiện có 03 con đang tuổi ăn học là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích.
Khi lượng hình phạt xét thấy: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; nhận thân bị cáo từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật lần nào, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử lý bị cáo dưới khung hình phạt cho bị cáo thể hiện sự Kn hông của pháp luật với người có nhân thân tốt.
Bị cáo phạm tội vì lợi ích lợi nhuận, bị cáo có tài sản chung cùng chồng là nhà và quyền sử dụng đất nên cần áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với Phạm Văn L và Nguyễn Văn K là người trực tiếp và góp tiền mua ma túy của Hàa vào ngày 04/5/2023, số Heroine này các đối tượng đã sử dụng hết không thể xác định khối lượng; khi Cơ quan điều tra bắt quả tang bị cáo H bán ma tuý bán cho L và K lần thứ hai vào buổi tối ngày 04/5/2023 thì L và K chưa nhận được gói Heroine mà bị cáo H định giao nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L và K; Cơ quan công an giao cho địa phương quản lý có biện pháp giáo dục với L và K là phù hợp.
Đối với hành vi của người phụ nữ bán ma túy cho Hoàng Thị H tại khu vực đường vành đai thuộc xóm 1, xã H, huyện K vào thời điểm đầu tháng 5/2023. Do H không biết tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được người này nếu gặp lại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đủ cơ sở để điều tra, xác minh.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại Samsung màu xanh, không lắp sim là tài sản của anh Nguyễn Văn L1 nhờ Phạm Văn L bán hộ. Anh L1 không biết việc L sử dụng điện thoại quay lại hình ảnh mua bán ma túy. Do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L1 chiếc điện thoại trên; việc trả lại các vật chứng này là phù hợp quy định của pháp luật Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Đối với các vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 367/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,2087 gam, M2 = 0,0390 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 mảnh giấy màu bạc, 02 vỏ phong bì niêm phong thu giữ ban đầu; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, có in chữ POKET SCALE; 01 kéo kim loại có phần tay cầm bọc cao su màu đỏ; 01 dao lam; 02 mảnh giấy bạc kích thước (7x7)cm; 04 mảnh giấy bạc kích thước (5x5)cm; 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu “Đ” khi tạm giữ điện thoại và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T” khi thu giữ tiền của L; Đây là những vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 500.000đ bị cáo H bán Heroine cho L đã tiêu xài hết; số tiền đó do phạm tội mà có cần truy thu từ bị cáo sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 300.000đ L sử dung định mua heroin của bị cáo H nhưng chưa thực hiện được đã bị thu giữ cần trả lại cho L
Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 566/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 10/7/2023 bên rong có 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 video thể hiện việc mua bán ma túy vào ngày 04/5/2023 đã được chuyển theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục quản lý.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện K; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 2, Khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý"
2. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2023. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000đ sung ngân sách nhà nước.
3. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Truy thu từ bị cáo H số tiền 500.000đ sung ngân sách nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 367/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,2087 gam, M2 = 0,0390 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 mảnh giấy màu bạc, 02 vỏ phong bì niêm phong thu giữ ban đầu; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, có in chữ POKET SCALE; 01 kéo kim loại có phần tay cầm bọc cao su màu đỏ; 01 dao lam; 02 mảnh giấy bạc kích thước (7x7)cm; 04 mảnh giấy bạc kích thước (5x5)cm; 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu “Đ” khi tạm giữ điện thoại và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T” khi thu giữ tiền của L đã được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
- Tiếp tục quản lý 01 phong bì niêm phogn ghi số 566/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 10/7/2023 bên rong có 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 video thể hiện việc mua bán ma túy vào ngày 04/5/2023 đã được chuyển theo hồ sơ vụ án
- Trả lại cho anh Phạm Văn L số tiền 300.000đ đã thu giữ
(Chi tiết vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa công an huyện K và chi cục Thi hành án Dân sự huyên j K ngày 14/8/2023)
4. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm .
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Công an huyện K; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thế Anh |