- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 21/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Đào
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Quang
Ông Dương Văn Nhạ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Hảo – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 21/9/2023, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Can Lộc kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/20223TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/9/1997; Quê quán: thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Nguyễn Duy C, sinh năm 1975; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị O, sinh năm: 1976; Đều đang làm ruộng và sinh sống tại tổ dân phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy C; sinh năm 1975, trú tại: Tổ dân phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Trần Đình T, sinh năm 1959, trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.
2. Anh Nguyễn Lương T1, sinh năm 2001, trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái máy đào; vắng mặt. * Những người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa:
- Tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Can Lộc:
Đồng chí Phan Tiến D, cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp, Công an huyện C, có mặt.
- Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H:
1. Đồng chí Nguyễn Văn T2
2. Đồng chí Nguyễn Công H1
3. Đồng chí Tô Ngọc H2
Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy H là đối tượng nghiện ma túy và loại ma túy thường sử dụng là Methamphetamine. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/7/2023, do có ý định sử dụng ma túy nên Nguyễn Duy H đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ, biển kiểm soát 38P1-358.27 (là xe của ông Nguyễn Duy C, bố đẻ của Nguyễn Duy H) đi từ nhà ở tổ dân phố K, thị trấn N, huyện C ra thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh để tìm mua ma túy. Khi đi qua ngã tư N, cạnh tượng đài Xô viết N thì Nguyễn Duy H thấy Nguyễn Lương T1 đang đứng ở vỉa hè nên H rủ T1 đi Hồ N chơi mà không nói cho T1 biết là đi mua ma túy, T1 đồng ý đi theo mà không hỏi gì thêm. Sau đó, Nguyễn Duy H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38P1-358.27 chở Nguyễn Lương T1 đi ra đến khu vực cổng chào thị xã H thì H nói T1 xuống xe đứng đợi còn H một mình điều khiển xe mô tô đi mua ma túy. Khi đi đến địa phận phường Đ, thị xã H thì Nguyễn Duy H nhìn thấy có một nam thanh niên không quen biết đang đứng trên vỉa hè, H dừng xe đi đến hỏi mua ma túy thì người này đồng ý bán nên H đưa cho nam thanh niên này 300.000 đồng. Sau khi nhận tiền thì nam thanh niên đó bỏ đi khoảng 10 phút thì quay lại và nói với H ma túy được bỏ trong mảnh ni lông cuộn tròn để ở gốc cây trên vỉa hè rồi bỏ đi. H đi lại thì thấy có một mảnh ni lông màu vàng cuộn tròn, mở ra bên trong thì thấy có 05 viên ma túy màu hồng, hình tròn, Hoàng cuộn lại rồi bỏ vào túi áo khoác nắng bên trái và điều khiển xe mô tô đi đón Nguyễn Lương T1 rồi cả hai đi về thị trấn N. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận tổ dân phố P, thị trấn N, huyện C thì bị lực lượng Cảnh sát phòng chống ma túy Công an huyện C tuần tra, kiểm soát phát hiện có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác nắng bên trái của Nguyễn Duy H có 01 mảnh ni lông màu vàng được cuộn tròn lại, bên trong có 05 viên màu hồng, theo khai nhận của H thì 05 viên màu hồng đó là ma túy nên Công an huyện C đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số 719/KL-KTHS ngày 03/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 05 viên nén màu hồng được bọc bên trong 01 mẩu ni lông màu vàng không rõ kích thước gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4431 gam. Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong Danh mục II.C, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Việc thu giữ và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã thu giữ các đồ vật, tài sản gồm:
- 01 mảnh ni lông màu vàng, không rõ kích thước và 0,4431 gam Methamphetamine (đã lấy 0,1805 gam làm mẫu giám định) còn lại 0,2626 gam đã được niêm phong.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen đỏ, BKS: 38P1 - 358.27, số khung: 0610FY096850, số máy: G3D4E108707, xe đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, số IMEI: 353916101816874, lắp sim số: 0372515623, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI: 352713076268079, lắp sim số 0369459490, đã qua sử dụng.
Xét thấy một số đồ vật, tài sản đã thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội, không ảnh hưởng đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho người được bị cáo ủy quyền là ông Nguyễn Duy C (bố đẻ của bị can Nguyễn Duy H). Còn lại 01 mảnh ni lông màu vàng, không rõ kích thước và 0,2626 gam chất ma túy đã được niêm phong được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự để quản lý theo quy định.
Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 44/CT-VKSCL-HS ngày 30/8/2023, \* MERGEFORMAT Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 32, 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2023; ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, thời gian, địa điểm phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/7/2023, trên tuyến đường liên thôn thuộc địa phận tổ dân phố P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, lực lượng Cảnh sát phòng chống ma túy Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh tuần tra phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Duy H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,4431 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Nguyễn Duy H là đối tượng nghiện ma túy và loại ma túy thường sử dụng là Methamphetamine. Mặc dù biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng H vẫn cố ý thực hiện với mục đích để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, tàng trữ trái phép 0,4431 gam ma túy Methamphetamine. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Duy H có tính chất nguy hiểm cho xã hội, trái với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm đến trật tự kiểm soát, quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật nói trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Liên quan đến vụ án:
Đối với Nguyễn Lương T1, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố P, thị trấn N, huyện C là người đã đi cùng Nguyễn Duy H ra thị xã H. Tuy nhiên, T1 không biết mục đích H đi mua ma túy về để sử dụng, không có hành vi giúp sức và cũng không được hưởng lợi gì nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Lương T1 là đúng quy định pháp luật.
Quá trình điều tra Nguyễn Duy H khai nhận đã mua ma túy của 01 nam thanh niên ở phường Đ, thị xã H, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường Đ, thị xã H tiến hành rà soát, xác minh đặc điểm đối tượng như lời khai của Nguyễn Duy H nhưng không xác định được. Do đó, không có đủ cơ sở để xác định được đối tượng đã bán chất ma túy cho Nguyễn Duy H, cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra và xử lý khi có căn cứ là phù hợp.
Đối với ông Nguyễn Duy C, sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 38P1- 358.27, khi để xe mô tô ở nhà thì Nguyễn Duy H đã tự ý lấy đi mua ma túy thì ông C không biết nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Nguyễn Duy C là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh ni lông màu vàng và 0,2626 gam chất ma túy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 mảnh ni lông màu vàng và 0,2626 gam chất ma túy (đã trừ 0,1805 gam lấy mẫu giám định). Đặc điểm vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Nguyễn Duy H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Công an, VKS, THA huyện Can Lộc; - Bị cáo; - Người có QL và NVLQ; - Thi hành án hình sự; - Lưu HSVA, lưu VP. Hội thẩm nhân dân Nguyễn Duy Quang Dương Văn N | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Đào HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Bích Đ |