- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu N cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 40.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 18-4-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thùy Dương
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hữu N; sinh năm: 1990 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Hữu Ph, sinh năm: 1944 (Đã chết) và bà Dương Thị C, sinh năm: 1955; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/6/2022 cho đến nay tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. Họ và tên: Nguyễn Đình Ng; sinh năm: 1989 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Đình C, sinh năm: 1960 và bà Bùi Thị Th, sinh năm 1963; Vợ: Lê Thị H, sinh năm: 1990; Con: có 02 người con, sinh năm 2012 và năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 24/11/2022 cho đến ngày 04/01/2023 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn Q; sinh năm: 1996; tại: Đồng Nai; Tên gọi khác: Tèo; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1957 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1961; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 21/11/2022 cho đến ngày 04/01/2023 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh.
4. Họ và tên: Bùi Thái S; sinh năm: 1990 tại Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp 1, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Thái Ph, sinh năm: 1955 (Đã chết) và bà Chu Thị Th, sinh năm 1960; Vợ: Ngô Thị Vân A, sinh năm: 1993; Con: có 01 người con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Ngày 12/7/2006, bị Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Mỹ quyết định đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng.
+ Ngày 11/12/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự 1999.
- Bị tạm giữ từ ngày 21/11/2022 cho đến ngày 27/11/2022 được thay thế bằng biện pháp “Bảo lĩnh” cho đến nay.
5. Họ và tên: Nguyễn Doãn T, sinh năm: 1986 tại Hải Dương; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Doãn T, sinh năm: 1960 (Đã chết) và bà Phạm Thị Q, sinh năm 1962; Vợ: Trần Thị Tr, sinh năm: 1991; Con: có 01 người con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/6/2022 cho đến nay tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
6. Họ và tên: Nguyễn Doãn Th, sinh năm: 1974 tại Hải Dương; Nơi cư trú: ấp Suối Lức, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Doãn G, sinh năm: 1935 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm: 1937 (đã chết); Vợ: Ngô Thị Ng, sinh năm: 1981; Con: có 02 người con, sinh năm 2002 và 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/6/2022 cho đến nay tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
7. Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1972 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn Â, sinh năm: 1930 (Đã chết) và bà Đoàn Thị X, sinh năm 1937 (Đã chết); Vợ: Trần Thị S, sinh năm: 1976; Con: có 02 người con, sinh năm 1997 và 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/10/2004, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/6/2022 cho đến nay tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
8. Họ và tên: Phạm Xuân Nh, sinh năm: 1992 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp 9, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Phạm Xuân Th, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1953; Vợ: Trần Ngọc Á, sinh năm: 200; Con: có 02 người con, sinh năm 2012 và năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/8/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự 1999. Ngày 30/8/2010, Nhật chấp hành xong hình phạt. Hiện đã được xóa án tích; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/6/2022 cho đến nay tại xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
9. Họ và tên: Trần Vũ E, sinh năm: 1984 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp 6, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trần Thanh Ph (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm: 1957; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1980 (đã ly hôn); Con: có 01 người con, sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/6/2022 cho đến nay tại xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
10. Họ và tên: Nguyễn Đức Q, sinh năm: 1993 tại Hải Dương; Đăng ký thường trú: thôn Tr, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở hiện nay: ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Đức Th, sinh năm: 1962 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1963; Vợ: Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm: 1995 và có 01 người con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/6/2022 cho đến nay tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1988. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp L, xã X, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Lâm Hàn Nh, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp 7, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
3. Anh Trần Thanh D, sinh năm 1977. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp 4, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
4. Anh Dương Sỹ M, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp 6, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
5. chị Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1995. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
6. Chị Trần Thị Tr, sinh năm 1991. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
1. Anh Vũ Thành Đ, sinh năm 1988. (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp 5A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Hoàng Văn Tr, sinh năm 1997. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
3. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu N đã chuẩn bị sân bãi, công cụ (cân, băng keo) tổ chức cho các đối tượng là chủ gà, con bạc đến khu vực vườn bưởi nhà N thuộc ấp S, xã X, huyện C tham gia đánh bạc dưới hình thức “Đá gà” được thua bằng tiền nhằm mục đích thu tiền xâu. Hình thức đá gà được thua bằng tiền như sau: Nguyễn Hữu N trực tiếp làm trọng tài phân xử thắng thua, cân gà xác định trọng lượng, xác định số tiền đánh bạc cho các bên, kiểm soát tiền đánh bạc của những người tham gia. Các chủ gà khi thống nhất số tiền đánh bạc sẽ trực tiếp hoặc nhờ người khác băng cựa và thả gà. Riêng những người tới xem tham gia đánh bạc hàng xáo bên ngoài thì sẽ thông qua Năm để đánh bạc hoặc đánh bạc trực tiếp với nhau. Kết thúc trận gà, N sẽ lấy tiền của bên thua chung cho bên thắng, thu tiền xâu 05% trên tổng số tiền đánh bạc theo thỏa thuận của các bên.
Ngày 17/02/2022, Nguyễn Hữu N đã tổ chức cho nhiều đối tượng đến tham gia 04 trận đá gà cụ thể như sau:
- Trận thứ nhất: Là trận gà giữa 01 con gà tre, màu điều, nặng 1.28 kg của Nguyễn Doãn T đá với 01 con gà tre, màu điều, nặng 1.3 kg của Nguyễn Văn H. Trận gà này con gà của H nặng hơn nên đá chấp ăn 8 (tức nếu con gà của H thắng thì H chỉ thắng 80% số tiền đánh bạc, nếu thua thì H sẽ thua đủ số tiền đánh bạc). N làm trọng tài phân xử thắng thua. Hai bên chủ gà thỏa thuận số tiền cược mỗi bên là 2.000.000 đồng. Trong đó, những con bạc cá cược đá xổ theo gà của T gồm: T theo số tiền 300.000 đồng, Nguyễn Doãn Th theo số tiền 200.000 đồng và một số con bạc ở ngoài (không rõ nhân thân, lai lịch) theo số tiền 1.500.000 đồng. Những con bạc cá cược theo gà của H gồm: H theo số tiền 700.000 đồng và 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) theo số tiền 1.300.000 đồng. Tổng số tiền cá cược trận gà là 4.000.000 đồng. Sau khi thống nhất số tiền cá cược đá xổ thì hai bên chủ gà tự băng cựa và thả gà. Trận gà kết thúc, con gà của H thắng nên H thắng 550.000 đồng; T thua 240.000 đồng; Th thua 180.000 đồng. Nguyễn Hữu N thu 100.000 đồng tiền xâu.
- Trận thứ hai: Là trận gà giữa 01 con gà lông, màu vàng, nặng 3,1 kg của Nguyễn Văn Q đá với 01 con gà lông, màu đỏ đen (điều) nặng 3,1 kg của Phạm Xuân Nh. N làm trọng tài, phân xử thắng thua. Trận gà này hai bên chủ gà thỏa thuận đá đồng với tiền xổ là 2.000.000 đồng, giao lưu thêm 1.000.000 đồng, tổng cộng là 3.000.000 đồng mỗi bên. Trong đó những con bạc cá cược đá xổ theo gà của Nh gồm: Nh theo số tiền 2.000.000 đồng, Nguyễn Doãn T cược 200.000 đồng và 04 đối tượng khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) theo cược số tiền 800.000 đồng. Phía gà của Q thì Q đặt cược số tiền 500.000 đồng và một số đối tượng khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) theo cược số tiền 2.500.000 đồng. Ngoài ra, số tiền tham gia đá ngoài (hàng xáo) thông qua chủ gà và trọng tài là 12.000.000 đồng. Trong đó, Trần Vũ E cá cược hàng xáo theo gà của Q, thông qua N số tiền 1.000.000 đồng; N tham gia đặt cược hàng xáo theo gà của Nh số tiền 500.000 đồng, còn lại những ai tham gia thì chưa rõ. Tổng số tiền cá cược trận gà là 18.000.000 đồng (gồm 6.000.000 đồng tiền cá cược giữa hai chủ gà và 12.000.000 đồng tiền cá cược bên ngoài thông qua chủ gà và trọng tài). T là người băng cựa, thả gà cho Nh còn Bùi Thái S băng cựa, thả gà cho Q. Trận gà kết thúc con gà của Q thắng nên thắng được 3.000.000 đồng, trong đó Q thắng được 500.000 đồng, đưa cho N 50.000 đồng tiền xâu; Nh thua số tiền 2.000.000 đồng; T thua số tiền 200.000 đồng; N thu lợi 500.000 đồng tiền xâu và thua 500.000 đồng; Trần Vũ E thắng 1.000.000 đồng, đưa cho N 50.000 tiền xâu).
- Trận thứ ba: Là trận gà giữa 01 con gà lông, màu trắng, nặng 2.9kg của Nguyễn Đình Ng đá với 01 con gà lông, màu điều, nặng 2.9kg của Nguyễn Văn H. Năm là người làm trọng tài phân xử thắng thua. Trận này hai bên chủ gà thỏa thuận đá đồng với số tiền cá cược mỗi bên là 3.000.000 đồng. Trong đó những con bạc cá cược theo gà của H gồm: H theo số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Doãn Th theo số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Đức Q theo số tiền 500.000 đồng và 01 số đối tượng khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) theo số tiền 1.500.000 đồng. Phía gà của Ng thì cá cược số tiền 3.000.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đá ngoài (hàng xáo) thông qua chủ gà và trọng tài là 7.000.000 đồng nhưng không rõ những ai tham gia. Tổng số tiền cá cược trận gà là 13.000.000 đồng (gồm 6.000.000 đồng tiền cá cược giữa hai chủ gà và 7.000.000 đồng tiền cá cược đá ngoài thông qua chủ gà và trọng tài). Sau khi thống nhất số tiền cá cược đá xổ thì hai bên chủ gà tự băng cựa và thả gà. Kết thúc trận gà, con gà của Ng thắng nên Ng thắng được 3.000.000 đồng nhưng chưa nhận được số tiền trên; H thua số tiền 500.000 đồng; Th thua số tiền 500.000 đồng; Q thua số tiền 500.000 đồng. Trận này N chưa thu được tiền xâu.
Ngoài ra, khi trận gà diễn ra thì Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1988, ngụ tại ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai tham gia đặt cược hàng xáo trực tiếp, không thông qua trọng tài và chủ gà với 01 đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) số tiền 500.000 đồng; Lâm Hàn Nh, sinh năm 1985, ngụ tại ấp 7, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai tham gia đặt cược hàng xáo trực tiếp, không thông qua trọng tài và chủ gà với 01 đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) số tiền 1.000.000 đồng. Nh, Ch theo con gà của Ng nên Nh thắng 1.000.000 đồng và đã nhận số tiền trên, còn Ch thắng 500.000 nhưng chưa nhận được tiền trên.
- Trận thứ tư: Là trận gà giữa 01 con gà tre, màu điều, nặng 1.87 kg của Nguyễn Hữu N đá với 01 con gà tre, màu đen, nặng 1.8 kg của Lâm Hàn Nh. Trận này con gà của N đá chấp con gà của Nh “ăn 9” với số tiền cược mỗi bên là 2.000.000 đồng. Tổng số tiền cá cược trận gà là 4.000.000 đồng. Trận gà chuẩn bị diễn ra thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang tụ điểm đánh bạc trên.
Đối với Nguyễn Văn Q, Bùi Thái S, Nguyễn Đình Ng sau khi bị khởi tố thì đã bổ trốn. Đến ngày 21 và 24/11/2022 thì S, Q, Ngọc đến Công an huyện Cẩm Mỹ đầu thú.
Vật chứng của vụ án:
- 02 cặp cựa bằng kim loại, 02 cuộn băng keo, 01 cái cân màu xanh loại 05kg và số tiền 7.720.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, mang biển số 72G1-817.11; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vission, màu xanh, mang biển số 60B6-359.40; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, mang biển số 60X2-3256; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, mang biển số 60B4-720.39; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen trắng đỏ, mang biển số 60R7-6936; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, mang biển số 60B6-708.08; 01 xe mô tô mang biển số 60B6-585.47; 01 xe mô tô 72E1-066.83; 02 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh; Số tiền: 14.800.000 đồng (trong đó, 14.750.000 đồng của Trần Vũ Em và 50.000 đồng của Vũ Thành Đạt); 04 con gà đá.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 13/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn Doãn T, Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H, Trần Vũ E, Nguyễn Doãn Th, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình Ng, Bùi Thái S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố theo bản Cáo trạng và đề nghị:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Riêng bị các bị cáo Q, T, Th, Ng, E, Q phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo S, Ng, Q đầu thú, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo N phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, đều là lao động chính trong gia đình, đánh bạc với số tiền không lớn, ngoài ra một phần xuất phát từ tâm lý ham vui trong những ngày tết. Do đó, không cần thiết phải tạm giam mà phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ nghiêm.
Căn cứ Điều 321 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn Doãn T, Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H, Trần Vũ E, Nguyễn Doãn Th, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn Q Nguyễn Đình Ng, Bùi Thái S phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H cùng từ 35.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Doãn T, Nguyễn Doãn Th, Trần Vũ E, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình Ng cùng từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thái S 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Đối với Nguyễn Văn Ch và Lâm Hàn Nh tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền. Tuy nhiên, số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Đồng thời, Ch và Nh chưa có tiền án, tiền sự về các tội “Đánh bạc; Tổ chức đánh bạc; Gá bạc”, do đó hành vi của Ch, Nh chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm nên Công an huyện Cẩm Mỹ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Ch và Lâm Hàn Nh theo quy định của pháp luật.
Đối với các đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tham gia vào việc đánh bạc, hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.720.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, mang biển số 72G1-817.11 do bị cáo Nguyễn Đình Ng đứng tên chủ sở hữu, là tiền, công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
+ Tuyên tiêu hủy 02 cặp cựa bằng kim loại, 02 cuộn băng keo, 01 cái cân màu xanh loại 05kg là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội. Hiện không còn giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể, Ngày 17/02/2022, tại vườn bưởi nhà Nguyễn Hữu N thuộc ấp S, xã X, huyện C, N đã chuẩn bị sân bãi, công cụ (cân, băng keo) cho các đối tượng là chủ gà, con bạc đến để tham gia đánh bạc dưới hình thức “Đá gà” được thua bằng tiền nhằm mục đích thu tiền xâu. Nguyễn Hữu N đã làm trọng tài cho 04 trận đá gà, trong đó có 02 trận số tiền tham gia đánh bạc trên 5.000.000 đồng là:
- Trận thứ hai: Giữa gà của Nguyễn Văn Q với gà của Phạm Xuân Nh. Tổng số tiền đánh bạc trận này là 18.000.000 đồng, gồm:
+ Tổng số tiền xổ của trận này là 6.000.000 đồng. Trong đó, Nh sử dụng 2.000.000 đồng; T sử dụng 200.000 đồng và 04 đối tượng khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số tiền 800.000 đồng. Phía gà của Qu thì Q sử dụng 500.000 đồng và một số đối tượng khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số tiền 2.500.000 đồng.
+ Tổng số tiền đá hàng xáo thông qua chủ gà và trọng tài của trận này là 12.000.000 đồng. Trong đó: E sử dụng 1.000.000 đồng, còn lại những ai tham gia thì chưa rõ. Kết quả: Nh thua số tiền 2.000.000 đồng, T thua số tiền 200.000 đồng, N thu lợi 500.000 đồng tiền xâu và dùng số tiền này để tham gia cá cược theo con gà của Nh. Kết quả N thua 500.000 đồng, E thắng 950.000 đồng.
- Trận thứ ba: Giữa gà của Nguyễn Đình Ng với gà của Nguyễn Văn H. Tổng số tiền đánh bạc trận gà là 13.000.000 đồng, gồm:
+ Tổng số tiền xổ của trận này là 6.000.000 đồng. Trong đó, H sử dụng 500.000 đồng, Th sử dụng 500.000 đồng, Q sử dụng 500.000 đồng và 01 số đối tượng khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng 1.500.000 đồng. Phía gà của Ng thì Ng sử dụng 3.000.000 đồng.
+ Tổng số tiền đá hàng xáo thông qua chủ gà và trọng tài của trận này là 7.000.000 đồng nhưng chưa rõ những ai tham gia. Kết quả: Ng thắng 3.000.000 đồng; H thua 500.000 đồng, Th thua 500.000 đồng, Qu thua số tiền 500.000 đồng.
Ngoài ra còn có 2 trận giữa gà của Nguyễn Doãn Tu với gà của Nguyễn Văn H và trận giữa gà của Nguyễn Hữu N với gà của Lâm Hàn Nh. Tuy nhiên, tổng số tiền đánh bạc mỗi trận là 4.000.000 đồng. Khi trận gà thứ 4 chuẩn bị diễn ra thì bị lực lượng Công an huyện Cẩm Mỹ kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Các bị cáo Nguyễn Doãn T, Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H, Trần Vũ E, Nguyễn Doãn Th, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình Ng, Bùi Thái S tham gia đánh bạc với hình thức đá gà, đây là trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau nên xác định tiền dùng để đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền của những người cùng đánh bạc. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Doãn T, Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H, Trần Vũ E, Nguyễn Doãn Th, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình Ng, Bùi Thái S đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo Nguyễn Hữu N là người đứng ra tổ chức và chuẩn bị các công cụ để đánh bạc bằng hình thức “Đá gà” được thua bằng tiền nhằm mục đích thu tiền xâu. Tuy nhiên, số người tham gia đánh bạc trong cùng một lúc chưa đủ 10 người và tổng tiền, hiện vật dùng để đánh bạc trong cùng 01 lần chưa đến 20.000.000 đồng, bị cáo Năm chưa có tiền án, tiền sự về các tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên hành vi của bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” mà đồng phạm với các bị cáo T, Nh, H, E, Th, Q, Ng, S, Q về tội “Đánh bạc”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu N đứng ra làm trọng tài cho 2 trận đá gà nên thuộc trường hợp phạm tội 2 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các bị cáo N, T, Th, E, Q, Q, Ng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo N, T, Th, E, Q, Q, Ng có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo S, Q, Ng sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm và vai trò đồng phạm của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì lợi ích vật chất mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Hữu N là người chuẩn bị công cụ, phương tiện để các bị cáo khác đánh bạc. Các bị cáo Nguyễn Doãn T, Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H, Trần Vũ E, Nguyễn Doãn Th, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình Ng tham gia với vai trò là người thực hành nên vai trò là như nhau, tuy nhiên cũng cần xem xét đến số tiền tham gia đánh bạc của từng bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo Bùi Thái S tham gia với vai trò thứ yếu chỉ giúp băng cựa, thả gà cho bị cáo Q không tham gia đặt tiền cá cược nên vai trò của bị cáo là thấp nhất. Đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Thái S và Phạm Xuân Nh có nhân thân nhưng không phải về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” và đã được xóa án tích từ lâu, sau khi chấp hành xong hình phạt đến trước khi phạm tội các bị cáo không vi phạm pháp luật nên cũng cần xem xét cho các bị cáo.
Về quyết định hình phạt: Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, đều hướng đến lợi ích vật chất làm mục đích phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.
Đối với Nguyễn Văn Ch và Lâm Hàn Nh có hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền. Tuy nhiên, số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, Ch và Nh chưa có tiền án, tiền sự về các tội “Đánh bạc; Tổ chức đánh bạc; Gá bạc”, do đó hành vi của Ch, Nh chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm nên Công an huyện Cẩm Mỹ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Ch và Lâm Hàn Nh là phù hợp.
Đối với các đối tượng chưa rõ nhân thân, lai lịch tham gia đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với xe mô tô biển số 60B6-585.47 do anh Trần Thanh D đứng tên chủ xe, tuy nhiên anh D xác định đã bán chiếc xe trên vào tháng 02/2021 cho một người tên Vũ không rõ nhân thân lai lịch và xe mô tô biển số 72E1-066.83 do chị Lê Thị Hiền Q đứng tên chủ xe, tuy nhiên chị Q xác định đã bán chiếc xe trên vào năm 2011 cho một người không rõ nhân thân lai lịch. Do hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô biển số 60B6-585.47 và xe mô tô biển số 72E1-066.83, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ đã tách 02 chiếc xe trên ra để tiếp tục xác minh và xử lý sau.
- Đối với xe mô tô biển số 72G1-585.817.11 là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đình Ng, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội, không dùng vào việc đánh bạc nên không tịch thu sung ngân sách nhà nước mà trả lại cho bị cáo Ng là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 60B6-585.47 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Tr, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội trong vụ án nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ trả lại cho chị Tr là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 60B6-359.40 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu Th không phải là công cụ, phương tiện phạm tội trong vụ án nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ trả lại cho chị Th là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 60X2-3256 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Ch, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội trong vụ án nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ trả lại cho anh Ch là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 60B6-708.08 là tài sản hợp pháp của anh Dương Sĩ M, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ trả lại cho anh M là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 60B4-720.39 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Thành Đ, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ trả lại cho anh Đ là phù hợp.
- Đối với số tiền 7.720.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Hữn N thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng, quá trình điều tra bị cáo N đã giao nộp 450.000 đồng nên buộc bị cáo Nguyễn Hữu N nộp bổ sung 150.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 02 cặp cựa bằng kim loại; 02 cuộn băng keo; một cái cân màu xanh loại 05kg không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp một phần với nhận định trên nên chấp nhận phần phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố các bị cáo Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Nh 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Bùi Thái S phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Bùi Thái S 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình Ng phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ng 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt Nguyễn Văn Q 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Doãn T, Trần Vũ Em Nguyễn Doãn Th, Nguyễn Đức Q, phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn T 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn Th 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Xử phạt Trần Vũ E 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 3.720.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009573 ngày 15/11/2022 và 4.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009584 ngày 13/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu N giao nộp 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình Ng 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu xanh BKS 72G1-585.817.11 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 01 năm 2023.
- Tịch thu tiêu hủy 02 cặp cựa bằng kim loại; 02 cuộn băng keo; một cái cân màu xanh loại 05kg hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 11 năm 2022.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn Doãn T, Phạm Xuân Nh, Nguyễn Văn H, Trần Vũ E, Nguyễn Doãn Th, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đình Ng, Bùi Thái S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; -VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - Công an huyện Cẩm Mỹ; - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ; - NTG Công an huyện Cẩm Mỹ; - Bị cáo; - Lưu HS; THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Tuân |