vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hìnhà sự - Trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÀÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNHÀ TIỀN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS-ST
Ngày 29/6/2023

NHÀÂN DANHÀ

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÀÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNHÀ TIỀN GIANG

- Thanhà phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe

Các Hội thẩm nhàân dân: 1. Ông Trần Trung Nhàân

2. Ông Lê Văn Lâu

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Liêu - Thư ký Tòa án nhàân dân huyện Cái Bè, tỉnhà Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhàân dân huyện Cái Bè, tỉnhà Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinhà Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhàân dân huyện Cái Bè, tỉnhà Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hìnhà sự tại hai điểm cầu, điểm cầu trung T tại trụ sở Tòa án nhàân dân huyện Cvà điểm cầu Thanhà phần tại Hội trường nhà tạm giữ công an huyện Cvụ án thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết địnhà đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Văn H, sinhà năm 1993; Tên gọi khác: H Bá; Nơi sinhà: Tỉnhà Tiền Giang; Giới tínhà: Nam; CCCD: 082093010222; Đăng ký nhàân khẩu thường trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnhà T; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinhà; Tôn giáo: Không; Trìnhà độ học vấn: 08/12; Cha: Hồ Văn D(đã chết); Mẹ: Lê Thị U; Bị cáo chưa có vợ, con; Anhà, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con lớn nhàất trong gia đìnhà; Về nhàân thân bị cáo: Từ nhàỏ sống chung với gia đìnhà tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnhà T. Ngày 31/12/2013, bị cáo bị Tòa án nhàân dân huyện Ctuyên phạt 10 tháng 13 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 119/2013/HSST, bị cáo chấp Hànhà xong bản án vào ngày 05/11/2015. Ngày 29/3/2020, bị cáo bị Ủy ban nhàân dân xã Hậu Mỹ Trinhà quyết địnhà áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời gian 03 tháng về Hànhà vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp Hànhà xong quyết địnhà; Tiền sự: 01 lần. Ngày 28/9/2020, bị cáo bị Tòa án nhàân dân huyện Cquyết địnhà áp dụng biện pháp xử lý Hànhà chínhà đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp Hànhà xong quyết địnhà ngày 30/11/2022; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2023 chuyển tạm giam từ ngày 28/02/2023 cho đến nay tại NHÀ tạm giữ Công an huyện C(có mặt).

- Người bị hại: Anhà Trần Văn V, sinhà năm 1980 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã A, huyện C, tỉnhà T.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguyễn Thanhà T, sinhà năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, T.

2/ Huỳnhà Văn Đ, sinhà năm 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu A, thị trấn c, huyện C, tỉnhà T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhàư sau:

Khoảng 21 giờ ngày 22/02/2023, Hồ Văn H và anhà Nguyễn Thanhà T (bạn H), sinhà năm 1989, thường trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnhà T điều khiển xe mô tô biển số 63B9-694.59 của H đi từ quán cà phê không tên tại xã B về nhà của H ở ấp M, xã , huyện C, do xe bị hư nên cả hai dẫn xe đi bộ. Đến khoảng 21 giờ 55 phút cùng ngày, khi cả hai đi đến nhà của anhà Trần Văn V, sinhà năm 1980, ở ấp H, xã A, huyện C, H nhàìn thấy xe mô tô biển số 63V3-4507 của anhà V đang đậu trước cửa nhà, trên xe có cấm sẵn chìa khóa, không người trông giữ nên H nảy sinhà ý địnhà trộm cắp xe mô tô trên bán lấy tiền tiêu xài. H rủ anhà T thực hiện nhàưng anhà T không đồng ý và anhà T tiếp tục dẫn xe 63B9-694.59 đi sửa rồi đi về nhàà. Lúc này, H đi đến vị trí đậu xe mô tô biển số 63V3-4507, dùng tay quay đầu xe về hướng chợ Thiên Hộ, rồi khởi động xe và điều khiển đi được khoảng 03 mét thì bị anhà V phát hiện,bắt giữ và giao cho Công an xã H, huyện C cùng tài sản mà H trộm cắp. Công an xã H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và chuyển cho Cơ quan Cảnhà sát điều tra Công an huyện C thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Bản kết luận địnhà giá tài sản số 11/KLĐG-TTHS ngày 27/02/2023 của Hội đồng địnhà giá tài sản trong tố tụng huyện Cxác địnhà: 01 xe mô tô hiệu Deahan, kiểu Dream, màu nâu, biển số 63V3-4507, trị giá 2.500.000 đồng.

Quá trìnhà điều tra, Hồ Văn H có thái độ thànhà khẩn khai báo, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập và vật chứng thu giữ.

Đối với anhà Nguyễn Thanhà T, quá trìnhà điều tra xác địnhà anhà T không phải là đồng phạm với Hồ Văn H trong vụ án này nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhàiệm hìnhà sự.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

- 01 xe mô tô biển số 63V3-4507;

- 01 giấy chứng nhàận đăng ký xe mô tô biển số 63V3-4507.

- 01 xe mô tô biển số 63B9-694.59 kiểu dáng Dream.

Xử lý vật chứng: Ngày 06/3/2023, Cơ quan Cảnhà sát điều tra Công an huyện Cđã trả lại cho anhà Trần Văn V 01 xe mô tô biển số 63V3-4507 và 01 giấy chứng nhàận đăng ký xe mô tô biển số 63V3-4507.Hiện Cơ quan điều tra còn tạm giữ 01 xe mô tô biển số 63B9-694.59 kiểu dáng Dream của Hồ Văn H.

Về trách nhàiệm dân sự: anhà Trần Văn V đã nhàận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhàân dân huyện C truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy địnhà tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hìnhà sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhàân dân huyện C đã phân tích, đánhà giá tínhà chất của vụ án, chứng minhà hànhà vi phạm tội của bị cáo cũng nhàư các tìnhà tiết giảm nhàẹ trách nhàiệm hìnhà sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hìnhà sự đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Văn H từ 18 đến 24 tháng tù.

- Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Hồ Văn H 01 xe mô tô biển số 63B9-694.59 kiểu dáng Dream

- Về trách nhàiệm dân sự: Bị hại anhà V đã nhàận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

NHÀẬN ĐỊNHÀ CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranhà luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhàận địnhà nhàư sau:

[1] Về Hànhà vi, quyết địnhà tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhàân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên trong quá trìnhà điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trìnhà tự, thủ tục quy địnhà của Bộ luật tố tụng hìnhà sự. Quá trìnhà điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hànhà vi, quyết địnhà của Cơ quan tiến Hànhà tố tụng, người tiến Hànhà tố tụng. Do đó, các Hànhà vi, quyết địnhà tố tụng của Cơ quan tiến Hànhà tố tụng, người tiến Hànhà tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người bị hại xin vắng mặt; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết địnhà xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy địnhà tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hìnhà sự.

[3] Về tội danhà: Tại phiên tòa bị cáo khai nhàận khoảng 21 giờ 55 phút ngày 22/02/2023, tại trước nhà của anh Trần Văn V ở ấp H, xã A, huyện C, tỉnhà T, bị cáo đã có Hành vi trộm cắp tài sản của anh V 01 mô tô biển số 63V3-4507 trị giá 2.500.000 đồng thì bị bắt quả tang. Lời thừa nhàận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy địnhà tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[4] Xét, Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không nhàững xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo còn trẻ, có sức khỏe nhàưng không chịu lao động để có thu nhập chính đáng, nhưng bị cáo thực hiện Hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Hành vi phạm tội của mình gây ra. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm khắc, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo Thành công dân tốt, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tìnhà tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhàiệm hìnhà sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhàiệm hình sự. Xét, về nhàân thân ngày 31/12/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện C tuyên phạt 10 tháng 13 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 119/2013/HSST, bị cáo chấp Hành xong bản án vào ngày 05/11/2015. Ngày 29/3/2020, bị cáo bị Ủy ban nhàân dân xã Hậu Mỹ Trinh quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời gian 03 tháng về Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp Hành xong quyết định; Tiền sự: 01 lần. Ngày 28/9/2020, bị cáo bị Tòa án nhàân dân huyện C quyết định áp dụng biện pháp xử lý Hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp Hành xong quyết địnhà ngày 30/11/2022. Điều này chứng tỏ lần chấp Hành hình phạt trước chưa đủ sức răn đe và cải tạo bị cáo trở Thành người biết tuân thủ pháp luật, nên khi có điều kiện bị cáo lại tiếp tục phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm Hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã có thái độ “Thành khẩn khai báo” về Hành vi phạm tội của mình, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhàẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhàiệm dân sự: Bị hại đã nhàận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo H bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô biển số 63B9-694.59 kiểu dáng Dream của Hồ Văn H, xe này bị cáo không dùng làm phương tiện để thực hiện Hànhà vi phạm tội, nên sẽ trả lại cho bị cáo.

[8] Đối với anh Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra xác định anh T không phải là đồng phạm với Hồ Văn H trong vụ án này nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhàiệm hình sự.

[9] Xét, lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNHÀ:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hìnhà sự

- Trả lại cho bị cáo Hồ Văn H 01 xe mô tô biển số 63B9-694.59 kiểu dáng Dream.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Hồ Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Hồ Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tínhà từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhàân dân tỉnhà Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

* Nơi nhàận:

Cỡ chữ