- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Chí Th bắt giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh và ông Đỗ Thu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bá Văn Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Tằn Đình Thống - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25, 26 và ngày 29, 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2023/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đối với các bị cáo:
1. Hoàng Chí Th, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T1 và bà Hành Thị Thu S1; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn M2 N (tên gọi khác: Beo), sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th2 và bà Phạm Thị Ch; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Văn H (tên gọi khác: H Heo), sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; Vợ: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Ngọc D (Tên gọi khác: Bé Cọp), sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Nguyễn Ngọc M3 và bà Nguyễn Thị H3; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn M (Tên gọi khác: Tý Nheo), sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th2và bà Phạm Thị Ch; Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6. Nguyễn L (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và con bà Nguyễn Thị Bích H5; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Q, sinh năm 1992 (vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng:
+ Trần T, sinh năm 1997 (vắng mặt tại phiên tòa).
+ Nguyễn Phúc H1, sinh năm 1992 (vắng mặt tại phiên tòa).
+ Nguyễn Thị H2, sinh năm 1967 (vắng mặt tại phiên tòa).
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
+ Nguyễn Lê Châu K, sinh năm 2000p (vắng mặt tại phiên tòa).
+ Lê Thiện N1, sinh năm 2003 (vắng mặt tại phiên tòa).
+ Nguyễn Văn M1, sinh năm 2002 (vắng mặt tại phiên tòa).
+ Nguyễn Duy Th1, sinh năm 1982 (vắng mặt tại phiên tòa).
+ Nguyễn Ngọc M2, sinh năm 1980 (có mặt tại phiên tòa).
Cùng địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 10/02/2022, Hoàng Chí Th, sinh ngày 04/3/1999, ở thôn B, xã T; Nguyễn M (tức là Tý nheo), sinh ngày 20/6/1998, ở thôn S, xã T; Nguyễn Phúc H1 (tức là Cọt), sinh năm 1992 và Nguyễn Q (tức là Phong gà), sinh năm 1992, cùng trú ở thôn B, xã T, huyện Bắc Bình rủ nhau đến nhà của Trần T (tức là Bé), sinh năm 1997, ở thôn B, xã T, huyện Bắc Bình để đánh bạc thắng thua bằng tiền (với hình thức binh xập xám). Số tiền các đối tượng trên dùng vào việc đánh bạc tổng cộng là 3.800.000 đồng, trong đó: Số tiền của Nguyễn Q 800.000 đồng, Th 1.500.000 đồng, H1 500.000 đồng và Bình 1.000.000 đồng dùng vào việc để đánh bạc. Ngoài ra, còn có Nguyễn Ngọc D (tức Bé cọp), sinh năm 1999 và Trần T (tức là Bé) ngồi xem đánh bạc.
Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày 10/02/2022, Th và M thua gần hết tiền, còn H1 và Nguyễn Q thắng, Th nghi ngờ Phong chơi bài bịp (tức gian lận) nên Th đứng dậy kiểm tra trên người của Nguyễn Q thì phát hiện trong lỗ tai có 01 vật hình tròn bằng kim loại (Th cho rằng đây là con chíp dùng để đánh bài bịp) nên Th liền dùng tay đánh vào mặt của Nguyễn Q 01 cái. Phong định bỏ chạy, thì M và D ở gần đó xông vào ôm Phong lại và đè Phong xuống nền nhà, rồi M và D dùng tay đánh vào mặt của Phong 02 đến 03 cái. Trong lúc, M và D ôm giữ Phong lại, thì Th cầm cây gậy chống nạn bằng Inox để chống chân (do chân của Th đang bị thương) đánh vào vùng mặt và đầu của Nguyễn Q 02 cái đến 03 cái và nói “Giữ nó lại, đừng cho nó chạy”, nên Bình và D tiếp tục ôm giữ, đè Phong xuống nền nhà và dùng tay đánh vào vùng mặt, đầu của Phong. Còn Nguyễn Phúc H1 nhìn thấy Nguyễn Q bị đánh nên H1 bỏ chạy về nhà và đón xe ô tô khách đi Thành phố Hồ Chí M2 trốn.
Sau đó, Th lấy điện thoại gọi cho Nguyễn Minh N (tức là Beo), sinh ngày 13/7/1995, ở thôn S, xã T biết việc Nguyễn Q đánh bài bịp và nói dối “em bị đánh trong nhà thằng Trần T (tức là Bé), anh vô giúp em”. Lúc này, N đang uống cà phê cùng với Nguyễn Văn H (tức là Hòa Heo), sinh ngày 24/4/1995, Nguyễn L, sinh ngày 10/11/1997, Nguyễn Lê Châu K, sinh năm 2000 và Lê Thiện N1 (tức là Cu Tư), sinh năm 2003, Nguyễn Minh M1, sinh ngày 01/01/2002, cùng trú ở thôn S, xã T, huyện Bắc Bình tại Quán cà phê Kỷ Nguyên thuộc thôn S, xã T, huyện Bắc Bình nên N nói “có chuyện rồi” cho H, L, K và N1 biết và rủ nhau đến nhà của Trần T để xem. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B2-475.77 chở L, K điều khiển xe mô tô chở N1, H chạy xe mô tô một mình và mang theo 01 con dao, còn M1 chạy xe mô tô một mình, đến nhà của Trần T. N và H đến chỗ Nguyễn Q đang bị M và D giữ lại và dùng tay đánh vào mặt Nguyễn Q nhiều cái, còn L, K, N1 và M1 đứng ngoài sân nhìn không tham gia đánh Phong. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1967 (là mẹ ruột của Trần T) đi chơi về nhìn thấy đánh nhau trong nhà nên bà H2 đuổi cả nhóm nói trên ra khỏi nhà. Do bị đuổi nên H, D và M dùng tay ôm giữ Nguyễn Q đưa ra trước sân nhà và đè Phong nằm sấp xuống mặt sân. Th nói “giữ nó lại, để em lấy tiền thua bài của em, đừng cho nó chạy”, rồi H lấy sợi dây thừng màu đen (loại dây thừng dùng để cột bò) có sẵn để gần đó, cột hai tay Nguyễn Q vòng ra phía sau lưng, còn D dùng sợi dây vải màu đỏ cột hai chân Phong lại với nhau nhưng không cột chân được do Phong vùng vẫy. Sau khi dùng dây cột 02 tay Nguyễn Q xong, H nói với N “chở nó về nhà nó” thì N liền lên xe mô tô biển số 86B2-475.77 cầm tay lái, còn H ôm Phong bỏ lên yên xe mô tô ngồi phía sau xe và bảo Nguyễn L đang đứng gần đó lên xe mô tô ngồi phía sau ôm giữ Nguyễn Q lại cho N chở đi. N điều khiển xe mô tô biển số 86B2-475.77 chở Phong ngồi giữa và Nguyễn L ngồi phía sau ôm giữ Phong lại và chạy về hướng nhà của Nguyễn Q ở thôn B, xã T. H, Th, M, D, K, N1, M1 và một số Th niên nữa (chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) cũng điều khiển xe chạy theo phía sau xe mô tô của N. Trên đường đi đến trước quán cà phê của ông Bùi Văn Lâm, sinh năm 1966, ở thôn B, xã T, thì Nguyễn Q nhìn thấy Nguyễn Duy Th1, sinh năm 1982, ở thôn B, xã T (là người quen biết với Phong) nên Nguyễn Q vùng vẫy, la lên “anh Th1 ơi, cứu em”, L ngồi phía sau ôm giữ chặt Phong lại, Nguyễn Q đạp vào thân xe để nhảy xuống, làm cho xe mô tô của N chở Nguyễn Q và Nguyễn L té ngã xuống đất. Sau khi bị té ngã, Nguyễn Q bò trườn vào hướng quán cà phê của ông Lâm, thì anh Th1 đi ra hỏi “có chuyện gì vậy”, Th nói “thằng Nguyễn Q đánh bài gian lận, đây là chuyện của tụi con, để tụi con xử lý nó”, vừa nói xong thì Th, Nguyễn M xông vào, tiếp tục dùng tay đánh Nguyễn Q nhiều cái, anh Th1 can ngăn lại không cho đánh nhau. Lúc này, N đứng dậy và H tiếp tục ôm đẩy Phong lên xe mô tô để chở đi nhưng Phong không chịu lên xe nên H và N ôm Phong đi bộ về hướng Trường Trung học cơ sở T, thì nghe tin lực lượng Công an đến nên cả nhóm nói trên bỏ chạy, còn lại một mình Nguyễn Q. Sau đó, Phong được Nguyễn Ngọc M2, sinh năm 1980, ở thôn S, xã T đi đường nhìn thấy Phong bị thương nên đưa Phong đến Trạm y tế xã T sơ cứu. Lúc đó, Phong được chuyển đến Bệnh viện đa khoa An Phước tỉnh Bình Thuận cấp cứu và điều trị vết thương.
Đến ngày 16/02/2022 Phong xuất viện về nhà và làm đơn yêu cầu giải quyết vụ việc gửi đến Công an xã T. Khi tiếp nhận nguồn tin, Công an xã T đã tiến hành xác định hiện trường thu giữ các tang vật, ghi lời khai của những người liên quan. Nhận thấy có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã T chuyển nguồn tin đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Bình giải quyết theo thẩm quyền.
Về tang, vật chứng của vụ án: Công an xã T thu giữ 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,60m; 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,50m; 01 con dao dài 41cm, trong đó lưỡi dao dài 29cm, rộng 7cm, được làm bằng kim loại màu đen, có nhiều vết mẻ phía lưỡi dao, cán dao dài 12cm, đường kính 2,5cm, được làm bằng gỗ màu trắng, hình tròn; 01 hộp nhựa hình tròn, màu trắng, dán nhãn màu xanh, có chữ TNK chính giữa và chữ Trung Quốc xung quanh, đường kính 2,5cm, cao 1,3cm, bên trong đựng 02 cục kim loại màu trắng; 01 cục kim loại được bọc nhựa màu đen có xốp trong hộp để giữ lại; 01 gậy chống nạn bằng Inox, đuôi gậy có bọc cao su hình tròn đường kính 3,8cm, màu vàng, đầu gậy có tay cầm bằng nhựa màu đen, chiều dài 13cm, tổng chiều à 77cm, thân gậy dài 67,5cm, đuôi gậy dài 5cm, đầy gậy dài 4,5cm; 01 khúc gỗ dài 60cm, rộng 15cm, có 03 nhánh, hình trụ tròn, màu nâu tình trạng khô.
Qua điều tra xác định: 02 đoạn dây thừng màu đen có đặc điểm nêu trên là dụng cụ do các bị can dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để xem xét giải quyết.
Đối với 01 con dao dài 41cm; 01 khúc gỗ dài 60cm, rộng 15cm; 01 hộp nhựa hình tròn, màu trắng, dán nhãn màu xanh và 01 gậy chống nạn bằng Inox, đuôi gậy có bọc cao su hình tròn đường kính 3,8cm, màu vàng, đầu gậy có tay cầm bằng nhựa màu đen, chiều dài 13cm, tổng chiều là 77cm, thân gậy dài 67,5cm, đuôi gậy dài 5cm, đầy gậy dài 4,5cm có đặc điểm nêu trên có liên quan đến vụ việc cố ý gây thương tích, nhưng không liên quan đến vụ án này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Bình tiếp tục tạm giữ điều tra làm rõ để xử lý trong cùng một vụ việc cố ý gây thương tích, là có căn cứ.
Đối với xe mô tô biển số 86B2-475.77 do Nguyễn Minh N dùng làm phương tiện chở, giữ Nguyễn Q. Qua đình tra xác định: Xe mô tô này là là của Nguyễn M (là em ruột của N) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bình và N khai: Do kẹt tiền, N và Bình đã bán xe mô tô này cho người khác (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch) nên không có căn cứ thu hồi và đề nghị xử lý.
Về phần dân sự: Các bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Q với số tiền 70.000.000 đồng. Sau khi nhận đầy đủ số tiền trên, Nguyễn Q đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết phần dân sự.
Ngoài ra, Nguyễn Q còn khai: Trong quá trình Phong bị đánh thì Phong có mất một số tài sản như tiền, điện thoại di động, nhưng Phong không biết ai lấy. Còn các đối tượng đánh Phong thì không ai thừa nhận lấy tài sản của Phong, đồng thời các nhân chứng cũng không thấy ai lấy tài sản của Phong nên lời khai của Phong là lời khai duy nhất nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
Đối với hành vi gây thương tích cho Nguyễn Q của Hoàng Chí Th, Nguyễn M, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định: Ngày 03/05/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Bình ra Quyết định trưng cầu giám định số 76/QĐ-ĐTTH giám định tỷ lệ thương tích đối với Nguyễn Q, nhưng Phong không chấp hành đi chụp CT theo chỉ định của Giám định viên. Ngày 13/06/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận có Công văn số 163/CV-PY về việc từ chối ban hành Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Nguyễn Q do không đủ cơ sở để tính tỉ lệ tổn thương cơ thể. Do vậy, đến nay chưa có kết luận giám định tỷ lệ thương tích của Nguyễn Q nên Cơ quan CSĐT tách vụ việc cố ý gây thương tích ra để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Q, Hoàng Chí Th, Nguyễn M do tổng số tiền của 04 người dùng để đánh bạc có giá trị dưới 5.000.000 đồng (tổng số tiền H1, Th, Phong, Bình dùng vào đánh bạc là 3.800.000 đồng), mặt khác qua xác M2 được biết H1, Phong, Th, Bình chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Do vậy, hành vi đánh bạc nêu trên của Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Q, Hoàng Chí Th và Nguyễn M không đủ yếu tố cấu thành tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Bình chuyển hồ sơ đề nghị Công an xã T xem xét xử lý vi hành chính đối với H1, Phong, Th và Bình theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Đối với hành vi của Lê Th1 N1, Nguyễn Lê Châu K và Nguyễn Văn M1 đi theo nhóm các bị cáo Hoàng Chí Th, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Văn H, Nguyễn M2 N, Nguyễn L và Nguyễn M nhưng chỉ đứng xem và khi các bị cáo này thực hiện hành vi phạm tội thì N1, K và M1 không có hành động hỗ trợ hay giúp sức gì nên không đồng phạm trong vụ án.
Quá trình điều tra, Hoàng Chí Th, Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của Hoàng Chí Th, Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người liên quan và các tang vật, chứng đã thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS.HBB ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố các bị cáo Hoàng Chí Th, Nguyễn M2 Nghĩa, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L, về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”, quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại hành vi phạm tội của các bị cáo về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Chí Th từ 9 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn M2 N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D với mức án từ 6 (sáu) tháng đến 9 (chín) tháng tù về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn M, Nguyễn L từ 6 (sáu) tháng đến 9 (chín) tháng tù về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng.
* Về tang, vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,60m; 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,50m vì đây là công cụ dùng vào việc phạm tội.
- Đối với 01 con dao dài 41cm; 01 khúc gỗ dài 60cm, rộng 15cm; 01 hộp nhựa hình tròn, màu trắng, dán nhãn màu xanh và 01 gậy chống nạn bằng Inox, đuôi gậy có bọc cao su hình tròn đường kính 3,8cm, màu vàng, đầu gậy có tay cầm bằng nhựa màu đen, chiều dài 13cm, tổng chiều là 77cm, thân gậy dài 67,5cm, đuôi gậy dài 5cm, đầy gậy dài 4,5cm có đặc điểm nêu trên có liên quan đến vụ việc cố ý gây thương tích, nhưng không liên quan đến vụ án này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Bình tiếp tục tạm giữ điều tra làm rõ để xử lý trong cùng một vụ việc cố ý gây thương tích, là có căn cứ nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
- Đối với xe mô tô biển số 86B2-475.77 do Nguyễn M2 N dùng làm phương tiện chở, giữ Nguyễn Q. Qua đình tra xác định: Xe mô tô này là là của Nguyễn M (là em ruột của N) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bình và N khai: Do kẹt tiền, N và Bình đã bán xe mô tô này cho người khác (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch) nên không có căn cứ thu hồi và đề nghị xử lý.
Về phần dân sự: Các bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Q với số tiền 70.000.000 đồng. Sau khi nhận đầy đủ số tiền trên, Nguyễn Q đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Lời nói sau cùng các bị cáo Hoàng Chí Th, Nguyễn M2 N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L trình bày: Các bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo hứa không bao giờ vi phạm nữa, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hồi đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa vắng mặt vắng mặt bị hại, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị hại vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố bị hại đã có lời khai đầy đủ, có đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên việc vắng mặt bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử; đồng thời các bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại anh Nguyễn Q theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng hơn 19 giờ 00 phút ngày 10/02/2022, tại thôn B, xã T, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, Hoàng Chí Th là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L cùng giúp sức bắt giữ và dùng dây trói chân tay của Nguyễn Q đưa lên xe mô tô chở Nguyễn Q đi đến nhà Phong để lấy lại tiền vì cho rằng Nguyễn Q gian lận khi chơi bài. Trên đường đi, thì bị người dân phát hiện báo công an đến giải cứu kịp thời. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi nêu trên của các bị cáo là cố ý xâm phạm đến thân thể, tự do cá nhân của con người, quyền tự do đi lại của người khác được pháp luật bảo vệ nên đã phạm vào tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Cho nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy: Vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo bộc phát nhất thời, không có sự bàn bạc, phân công vai trò trước khi phạm tội. Trong đó, Hoàng Chí Th là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L cùng giúp sức thực hiện hành vi phạm tội nên cùng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ hành vi phạm tội và H1 quả đã gây ra. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến thân thể, tự do cá nhân của con người, quyền tự do đi lại của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tuy nhiên, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo là khác nhau: Bị cáo Hoàng Chí Th là người chủ mưu khởi xướng, các bị cáo Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D giúp sức tích cực, Nguyễn M và Nguyễn L giúp sức nên bị cáo Th phải chịu mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo N, H, D và các bị cáo Nguyễn M, Nguyễn L phải chịu mức án nhẹ hơn so với các bị cáo nêu trên để tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[4]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Chí Th, Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L đều thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục H1 quả; bị hại làm đơn xin bãi nại; nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn M, Nguyễn L, Nguyễn Văn H còn có thời gian tham gia và hoàn thành N vụ quân sự; bị cáo Nguyễn Minh N và Nguyễn M là hai anh em ruột và là lao động chính trong gia đình đây cũng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị cáo Hoàng Chí Th đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục H1 quả; bị hại làm đơn bãi nại; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng trong vụ án bị cáo là chủ mưu rủ rê các bị cáo khác thực hiện việc bắt giữ người trái pháp luật làm mất trật tự trị an tại địa phương, thể hiện sự coi thường pháp luật, đồng thời xâm phạm đến thân thể, tự do cá nhân của con người, quyền tự do đi lại được pháp luật bảo vệ gây bức xúc trong nhân dân. Vì vậy, cần cách ly bị cáo Hoàng Chí Th ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm M2, răn đe đối với bị cáo cũng như để bị cáo có thời gian tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân tốt cho xã hội.
Đối với các bị cáo Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L tham gia bắt giữ người trái pháp luật với vai trò giúp sức nên hình phạt áp dụng với các bị cáo sẽ thấp hơn so với bị cáo Hoàng Chí Th. Hơn nữa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục H1 quả, nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên và xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội xét thấy không cần cách ly các bị cáo Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M và Nguyễn L ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại Nguyễn Q có khai mất một số tài sản như: Tiền, điện thoại di động, nhưng Phong không biết mất ở đâu hay ai lấy. Còn các đối tượng đánh Phong thì không ai thừa nhận lấy tài sản của Phong, đồng thời các nhân chứng cũng không thấy ai lấy tài sản của Phong nên lời khai của Phong là lời khai duy nhất nên cơ quan điều tra không có căn cứ đề nghị xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi gây thương tích cho Nguyễn Q của Hoàng Chí Th, Nguyễn M, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Bình đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với Nguyễn Q, nhưng Phong không chấp hành đi chụp CT theo chỉ định của Giám định viên nên ngày 13/06/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận có Công văn số 163/CV-PY về việc từ chối ban hành Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Nguyễn Q do không đủ cơ sở để tính tỉ lệ tổn thương cơ thể. Do chưa có kết luận giám định tỷ lệ thương tích của Nguyễn Q nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách vụ việc cố ý gây thương tích ra để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Q, Hoàng Chí Th, Nguyễn M do tổng số tiền của 04 người dùng để đánh bạc có giá trị dưới 5.000.000 đồng, mặt khác qua xác M2 được biết H1, Phong, Th, Bình chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Do vậy, hành vi đánh bạc nêu trên của Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Q, Hoàng Chí Th và Nguyễn M không đủ yếu tố cấu thành tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Bình chuyển hồ sơ đề nghị Công an xã T xem xét xử lý vi hành chính đối với H1, Phong, Th và Bình là đúng quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Lê Thiện N1, Nguyễn Lê Châu K và Nguyễn Văn M1 là những người đi theo nhóm các bị cáo Hoàng Chí Th, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Văn H, Nguyễn Minh N, Nguyễn L và Nguyễn M nhưng chỉ đứng xem và khi các bị cáo này thực hiện hành vi phạm tội thì N1, K và M1 không có hành động hỗ trợ hay giúp sức gì nên không đồng phạm trong vụ án nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 70.000.000 đồng. Sau khi nhận đầy đủ số tiền trên, bị hại Nguyễn Q đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời, tại phiên tòa các bị cáo đều khai số tiền trên do các bị cáo tự bàn bạc và cùng nhau góp vào để bồi thường cho bị hại, các bị cáo không nhớ số tiền cụ thể đã góp là bao nhiêu và không bị cáo nào yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét phải xem xét cụ thể số tiền của từng bị cáo đã góp để bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giải quyết.
[8]. Về xử lý tang vật chứng: Tại nơi xảy ra sự việc Công an xã T thu giữ 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,60m; 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,50m là dụng cụ do các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 con dao dài 41cm; 01 khúc gỗ dài 60cm, rộng 15cm; 01 hộp nhựa hình tròn, màu trắng, dán nhãn màu xanh và 01 gậy chống nạn bằng Inox, đuôi gậy có bọc cao su hình tròn đường kính 3,8cm, màu vàng, đầu gậy có tay cầm bằng nhựa màu đen, chiều dài 13cm, tổng chiều là 77cm, thân gậy dài 67,5cm, đuôi gậy dài 5cm, đầy gậy dài 4,5cm có đặc điểm nêu trên có liên quan đến vụ việc cố ý gây thương tích, nhưng không liên quan đến vụ án này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Bình tiếp tục tạm giữ điều tra làm rõ để xử lý trong cùng một vụ việc cố ý gây thương tích, là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với xe mô tô biển số 86B2-475.77 do Nguyễn Minh N dùng làm phương tiện chở, giữ Nguyễn Q. Qua đình tra xác định: Xe mô tô này là là của Nguyễn M (là em ruột của N) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Do kẹt tiền, N và Bình đã bán xe mô tô này cho người khác (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch) nên không có căn cứ để thu hồi và xử lý.
[9]. Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Xét đề nghị của Kiểm sát viên, về áp dụng điều luật, tội danh, mức hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt cũng như xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp khác đối với các bị cáo có căn cứ. Tuy nhiên, mức hình phạt đối với từng bị cáo sẽ được Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá khi lượng hình để có một bản án phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Chí Th, Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M, Nguyễn L, phạm tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Chí Th 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 157; Điều 17; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D 9 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn M, Nguyễn L 7 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2023).
Giao các bị cáo Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M, Nguyễn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M, Nguyễn L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M, Nguyễn L cố ý vi phạm N vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M, Nguyễn L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,60m; 01 đoạn dây thừng màu đen, bằng nhựa xoắn tròn, có đường kính 0,8cm, dài 2,50m.
* Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Hoàng Chí Th, Nguyễn Minh N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn M, Nguyễn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/5/2023), đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình; - Công an huyện Bắc Bình; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - UBND xã T, huyện Bắc Bình; - Chi cục THADS huyện Bắc Bình; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Ngọc |