vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Công L về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn bà Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Công L được ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Phương V, sinh năm 23/9/2007 cho ông Trần Công L được trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung tên Trần Ngọc Minh T, sinh ngày 31/8/2003 đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông L và bà H tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Công L về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09/5/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Bá Quyền;

2. Bà Huỳnh Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – T ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 311/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/4/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Công L, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ 3, ấp H, xã Th, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 3, ấp H, xã Th, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/11/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/02/2023, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Công L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Công L và bà Nguyễn Thị H có thời gian tìm hiểu nhau thì tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112/2001, quyển số 19/TN, ngày 17/8/2001. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông Trần Công L yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Ngọc Minh T, sinh ngày 31/8/2003 và Trần Ngọc Phương V, sinh năm 23/9/2007. Khi ly hôn, ông Trần Công L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc Phương V, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trần Ngọc Minh T đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Công L tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn ông Trần Công L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Ông Trần Công L và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Ông Trần Công L xác định hiện nay vợ chồng không còn sống cùng nhau, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: Ông L yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Ngọc Phương V, sinh năm 23/9/2007, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con; xét thấy hiện nay cháu V đang sống cùng ông L, điều kiện chăm sóc tốt và các con có nguyện vọng được sống với cha sau khi cha mẹ ly hôn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, đối với con chung tên Trần Ngọc Minh T, sinh ngày 31/8/2003 đã thành niên nên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Công L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thành phố T và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Trần Công L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Công L và bà Nguyễn Thị H có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112/2001, quyển số 19/TN, ngày 17/8/2001, là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn ông Trần Công L xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mục đích hôn nhân không đạt được và hiện tại vợ chồng đã ly thân nên yêu cầu được ly hôn. Hiện tại, vợ chồng đã ly thân và không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông L yêu cầu được ly hôn với bà H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Ngọc Minh T, sinh ngày 31/8/2003 và Trần Ngọc Phương V, sinh năm 23/9/2007. Khi ly hôn, ông Trần Công L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc Phương V, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trần Ngọc Minh T đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử thấy, hiện tại cháu V đang sống cùng ông L, ông L có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu V cũng có nguyện vọng sống cùng ông L nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, yêu cầu của ông L được nuôi con là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông L không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của ông nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Công L về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn bà Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Công L được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Phương V, sinh năm 23/9/2007 cho ông Trần Công L được trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung tên Trần Ngọc Minh T, sinh ngày 31/8/2003 đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ông Trần Công L và bà Nguyễn Thị H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Công L về việc không yêu cầu bà Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Ông Trần Công L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006482 ngày 22/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ