vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu H.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H được ly hôn anh Trần M. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Thu H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con là: Trần B, sinh ngày 28-8-2019 đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
Bản án số: 44/2023/HNGĐ -ST
Ngày: 29-5-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Doãn Thị Lệ và bà Nguyễn Thị Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hoàn, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên toà:

Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 123/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1995; địa chỉ: Hẻm 245 H, thôn 2 (cũ là thôn 3), xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn: Anh Trần M, sinh năm 1997; địa chỉ: Hẻm 584 N, tổ 5, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 27-02-2023, và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Lê Thị Thu H trình bày: Tôi (H) tự nguyện xây dựng gia đình với anh Trần M. Trước khi đăng ký kết hôn, tôi đã mang thai được 04 tháng. Ngày 12-4-2019, vợ chồng tôi mới đi đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Sau khi cưới, vợ chồng tôi chung sống cùng gia đình chồng tôi tại hẻm 584 N, thành phố P được một thời gian, nhưng vì chúng tôi không hợp nhau về tư tưởng và tính cách sống nên hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng được nữa. Năm 2021, tôi đưa con về nhà mẹ đẻ của tôi tại thôn 3, xã D, thành phố P ở từ đó cho đến nay. Thỉnh thoảng anh M đến chỗ tôi và con ở, rồi cãi nhau, la lối làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình tôi. Hiện nay, tôi không còn yêu thương anh M nữa nên xin được ly hôn. Tôi và anh M có 01 con chung là: Trần B, sinh ngày 28-8-2019. Ly hôn, tôi xin được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh M cấp dưỡng cho con. Tôi và anh M không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là anh Trần M trình bày: Tôi và Lê Thị Thu H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau. Trước khi đăng ký kết hôn, vợ tôi đã mang thai được 04 tháng. Ngày 12-4-2019, vợ chồng tôi đi đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P rồi về chung sống cùng gia đình tôi ở hẻm 584 N, phường H, thành phố P được một thời gian, nhưng vì vợ chồng không hợp nhau về tư tưởng và tính cách sống nên hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, năm 2021, vợ tôi đưa con về nhà mẹ đẻ của vợ tôi tại thôn 3, xã D, thành phố P ở từ đó cho đến nay. Thỉnh thoảng tôi đến thăm con, rồi vợ chồng đã xảy ra nhiều lần cãi vã, la lối nhau. Hiện nay, tôi không còn yêu thương vợ tôi nữa nên tự nguyện thuận tình ly hôn. Vợ chồng tôi có 01 con chung là: Trần B, sinh ngày 28-8-2019. Ly hôn, tôi xin được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu vợ tôi cấp dưỡng cho con. Vợ chồng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có nội dung trình bày thống nhất với lời trình bày của chị H như trên. Anh M tự nguyện thuận tình ly hôn, nhưng không thống nhất giao cho chị H được trực tiếp nuôi con, mà anh Hòa xin được được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con; từ khi chị H đưa con về nhà mẹ đẻ của chị H ở đến nay thì anh Hòa có nhiều lần đến thăm con và có gửi tiền cho chị H để chi phí nuôi con, trong những lần đến thăm con thì có lần anh M đã uống rượu say nên có la lối và cãi nhau với chị H.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến: Quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku. Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng và việc thu thập chứng cứ, cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện Kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa nhân dân thành phố P, theo loại việc, theo lãnh thổ và cấp xét xử, được quy định tại khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1995 và anh Trần M, sinh năm 1997, hai người có quan hệ trước hôn nhân và chị H đã có thai trước khi đăng ký kết hôn khoảng 04 tháng. Ngày 12-4-2019, chị H và anh M đã đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P. Tại thời điểm chị H mang thai trước hôn nhân và tại thời điểm đăng ký kết hôn, chị H và anh M đều đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, không thuộc trường hợp cấm kết hôn nên quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp, không vi phạm pháp luật về hình sự.

Thời gian đầu của hôn nhân, chị H và anh M chung sống với nhau tại nhà cha mẹ đẻ của anh Hòa ở Hẻm 584 N, tổ 5, phường H, thành phố P, nhưng vợ chồng không có hạnh phúc, vì không hợp nhau về tư tưởng và tính cách sống nên hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng. Do đó, năm 2021, chị H đưa con về nhà mẹ đẻ của mình tại thôn 3 (nay là thôn 2), xã D, thành phố P ở từ đó cho đến nay và thỉnh thoảng anh M có đến thăm con rồi cãi nhau, la lối chị H.

Ngày 20-4-2023, Tòa án đã xác minh tại địa phương nơi chị H sinh sống từ năm 2021 đến nay tổ thôn 2, xã D, thành phố P, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau: Mặc dù không đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, nhưng khoảng 02 năm trở lại đây, chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1995, đang sinh sống, trực tiếp nuôi con và sống cùng với mẹ đẻ chị H là bà Lê Thị S, tại nhà thuộc hẻm 245, thôn 2 (cũ là thôn 3), xã D, thành phố Ptừ đó đến nay, không thấy chồng chị H là anh Trần M sinh sống cùng chị H và con là Trần B.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị H và anh M suy nghĩ lại nhằm mục đích níu kéo hạnh phúc vợ chồng, nhưng chị H vẫn cương quyết ly hôn. Trong quá trình tham gia tố tụng, cũng như tại phiên tòa, anh Hòa đã thừa nhận rằng quan hệ hôn nhân đã trầm trọng và tự nguyện thuận tình ly hôn. Do đó đã đủ căn cứ khẳng định quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trần M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cho nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H, là có căn cứ và được Tòa án chấp nhận; ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của anh M.

Chị Lê Thị Thu H và anh Trần M có 01 con chung là: Trần B, sinh ngày 28-8-2019. Từ năm 2021 đến nay, chị H đã đưa con về nhà mẹ đẻ của mình để tự chăm sóc, nuôi dưỡng con. Hằng ngày chị H đi làm thuê và có thu nhập kinh tế ổn định và đủ khả năng để tự mình nuôi con, cho nên giao con cho chị H được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sẽ tốt hơn. Thấy rằng yêu cầu khởi kiện của chị H về xin được trực tiếp nuôi con, là có căn cứ nên được Tòa án chấp nhận. Chị H không yêu cầu anh M cấp dưỡng cho con nên không giải quyết về cấp dưỡng cho con.

Chị Lê Thị Thu H và anh Trần M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không giải quyết.

Buộc nguyên đơn là chị Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ vào các Điều: 28, 35, 39, 144, 147, 235, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

-Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

-Áp dụng các Điều: 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu H.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H được ly hôn anh Trần M.

2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Thu H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con là: Trần B, sinh ngày 28-8-2019 đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai số 0003167 ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.

4. Người có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 7b Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ